“Xung đột” lợi ích của con người

VOS | AYN RAND (1962)


Một số sinh viên lớp triết học Khách quan thấy khó hiểu thấu nguyên tắc của chủ nghĩa Khách quan về việc “Không có xung đột lợi ích giữa những người có-lý-trí (rational men)”.

Một câu hỏi điển hình được đưa ra như sau: giả sử hai người cùng ứng tuyển cho một công việc. Chỉ một người được chọn. Liệu đây có phải là trường hợp về xung đột lợi ích, và lợi ích của người này đạt được chẳng phải từ sự hy sinh của người kia sao?

Có bốn yếu tố, vốn tương quan nhau, cần phải suy xét; bốn điều này liên quan đến quan điểm lợi ích của người có-lý-trí, nhưng bị bỏ qua hoặc né tránh trong câu hỏi nêu trên và trong tất cả các cách tiếp cận tương tự đối với vấn đề này. Tôi sẽ chỉ rõ ra bốn điều này, đó là: a) “Thực tại (Reality)”, (b) “Ngữ cảnh (Context)”, c) “Trách nhiệm (Responsibility)”, d) “Nỗ lực (Effort)”.

(a) Thực tại. Thuật ngữ “lợi ích” là một khái niệm trừu tượng rộng lớn, bao hàm toàn bộ các vấn đề trong lĩnh vực đạo đức, như: giá trị, mong muốn, mục tiêu và thành tựu thực sự trong thực tại của một con người. “Lợi ích” của ta phụ thuộc vào loại mục tiêu ta chọn theo đuổi, việc lựa chọn mục tiêu phụ thuộc vào mong muốn của ta, mong muốn của ta phụ thuộc vào giá trị của bản thân ta – và đối với người có-lý-trí, giá trị của bản thân phụ thuộc vào phán xét dựa trên trí tuệ của mình. 

Mong muốn[/hoặc khát khao] (hoặc cảm giác hoặc cảm xúc hoặc ước ao hoặc ý thích bất chợt) không phải là công cụ nhận thức, không phải là một chuẩn mực có hiệu lực về giá trị, cũng không phải là tiêu chuẩn đúng đắn về lợi ích của con người. Việc một người khát khao điều gì đó, tự nó không cấu thành bằng chứng rằng đối tượng của khao khát này là điều tốt đẹp, cũng không đủ để chứng minh rằng thành tựu từ khao khát này là lợi ích thực sự của bản thân.

Việc tuyên bố rằng hễ không đạt được khao khát của bản thân nghĩa là người này đã hy sinh lợi ích của mình – đồng nghĩa với việc nắm giữ quan điểm chủ quan về giá trị và lợi ích của bản thân. Có nghĩa là: tin rằng thật đúng đắn, hợp đạo đức và khả dĩ để con người đạt được mục tiêu của mình bất kể chúng có mâu thuẫn với sự thật trong thực tại hay không. Có nghĩa là: nắm giữ một quan điểm phi lý trí hay huyền bí về sự tồn tại. Có nghĩa là: không đáng xem xét thêm nữa. 

Khi chọn lựa mục tiêu của mình (những giá trị cụ thể mà mình tìm kiếm để đạt được và/hoặc giữ gìn), người có-lý-trí được dẫn dắt bởi tư duy (thông qua quá trình lập luận) – không phải bởi cảm xúc hay ham muốn của bản thân. Người có-lý-trí không xem ham muốn là điều nguyên thủy không thể quy giản, là điều sẵn có, là vận mệnh khó cưỡng dành riêng cho mình theo đuổi. Người có-lý-trí cũng không cho rằng “bởi vì tôi muốn thế” hay “bởi vì tôi cảm thấy như vậy” là nguyên nhân thích đáng và là sự xác tín cho hành động của bản thân. Người có-lý-trí chọn và/hoặc xác định mong muốn của mình bằng một quá trình lập luận, và không hành động để đạt được nó cho đến khi và trừ khi bản thân có thể chứng thực khao khát đó trong ngữ cảnh toàn vẹn về tri thức, về các giá trị và mục tiêu khác của mình, một cách hợp lý. Người có-lý-trí chỉ hành động khi bản thân có thể hiểu rõ: “Tôi muốn thế bởi vì điều đó đúng.”

Trong quá trình xác định lợi ích của mình, người có-lý-trí phải xem luật Đồng nhất (A là A) như nguyên tắc tối thượng. Người này hiểu rằng sự mâu thuẫn là điều không thể, rằng không một mâu thuẫn nào có thể thực thi trong thực tại và rằng nỗ lực thực hiện mâu thuẫn chỉ có thể dẫn đến thảm họa và hủy diệt. Vì thế, người có-lý-trí không cho phép bản thân nắm giữ những giá trị mâu thuẫn, không theo đuổi các mục tiêu xung đột nhau, và không cho rằng theo đuổi những mẫu thuẫn có thể mang đến lợi ích cho bản thân.

Chỉ kẻ phi lý trí (hoặc người theo chủ nghĩa thần bí, chủ nghĩa chủ quan – trong nhóm mà tôi xếp tất cả những người xem đức tin, cảm xúc hoặc ham muốn là tiêu chuẩn giá trị của con người) mới tồn tại trong cuộc xung đột “lợi ích” dai dẳng. Không chỉ xung đột lợi ích được-cho-là của bản thân với lợi ích của những người khác, mà còn xung đột với chính lợi ích khác của mình.

Từ góc độ triết học, không ai thấy khó khăn khi loại bỏ vấn đề của kiểu người hay than vãn rằng cuộc sống bẫy họ trong loại xung đột không thể hòa giải vì muốn được cái này thì lại mất cái kia. Việc mở rộng vấn đề đó vượt ra ngoài một lợi ích đơn giản cũng không làm nó đạt đến sự xác tín về mặt trí tuệ – bất kể sự mở rộng ấy đến toàn bộ vũ trụ, như trong học thuyết Hiện sinh, hay chỉ đến vài sự ngẫu hứng hoặc sự né tránh bất chợt, như hầu hết các quan điểm của loài người về lợi ích.

Khi một người đến giai đoạn tuyên bố rằng lợi ích của bản thân xung đột với thực tại, thì khái niệm về “lợi ích” không còn ý nghĩa – và vấn đề không còn là triết học nữa mà trở thành vấn đề thuộc về tâm lý.

(b) Ngữ cảnh. Một người có-lý-trí không nắm giữ bất kì quan điểm nào nằm ngoài ngữ cảnh – nghĩa là không liên kết đến phần tri thức còn lại và không hóa giải bất kì mâu thuẫn có thể có – cũng giống như vậy, người có-lý-trí không nắm giữ hay theo đuổi bất kỳ mong muốn nào nằm ngoài ngữ cảnh. Và người này không phán định những gì là hoặc không phải là lợi ích của bản thân mà tách rời ngữ cảnh, hay trong phạm vi của bất kỳ khoảnh khắc tức thời sẵn có nào đó.

Bỏ qua ngữ cảnh là một trong những dạng tâm lý chính yếu của sự trốn tránh. Liên quan đến ham muốn của con người, có hai kiểu bỏ qua ngữ cảnh chính: các vấn đề về phạm vi và về phương tiện.

Người có-lý-trí nhìn nhận lợi ích của mình trong mối quan hệ với cả cuộc đời và tuyển chọn mục tiêu tương ứng theo đó. Điều này không có nghĩa là người có-lý-trí thông hiểu mọi sự, có thể nhìn thấu suốt hoặc không phạm sai lầm. Mà nó nghĩa là người này không sống cuộc đời trong phạm vi ngắn hẹp và không sống trôi dạt như kẻ ăn bám bị xô đẩy bởi sự kích thích nhất thời. Nghĩa là, người có-lý-trí không để bất kỳ khoảnh khắc nào nằm ngoài ngữ cảnh của toàn bộ cuộc đời mình, và cũng không cho phép xung đột hay mâu thuẫn nào giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn của bản thân. Người như vậy không trở thành kẻ hủy diệt bản thân bằng cách hôm nay theo đuổi một mong muốn để rồi ngày mai chính mong muốn đó sẽ hủy sạch mọi giá trị của mình.

Người có-lý-trí không đắm chìm trong những thèm khát đầy tiếc nuối về các mục đích bị tách rời phương tiện. Anh ta không nắm giữ mong muốn mà không hiểu biết (hay không học hỏi) và không xem xét các phương tiện để đạt được mong muốn đó. Vì anh ta biết rằng tạo hóa không ban sẵn cho con người sự thỏa mãn những ham muốn của mình; rằng các mục tiêu hoặc giá trị của bản thân phải đạt được bằng nỗ lực của chính mình, rằng cuộc sống và nỗ lực của những người khác không phải là tài sản của anh ta, cũng không sẵn ở đó để phục vụ cho mong muốn của anh ta – một người có-lý-trí không bao giờ nắm giữ loại ham muốn hay theo đuổi kiểu mục tiêu mà không thể đạt được trực tiếp hoặc gián tiếp bằng nỗ lực của chính mình.

Chính từ việc hiểu biết đúng đắn về cái “gián tiếp” này mà vấn đề xã hội cốt lõi mới thực sự bắt đầu.

Việc con người sống trong một xã hội, thay vì trên một ốc đảo, không làm nhẹ bớt trách nhiệm hỗ trợ sự sống của bản thân. Sự khác biệt duy nhất là, người này hỗ trợ sự sống của bản thân bằng cách giao thương sản phẩm hoặc dịch vụ của mình với sản phẩm hoặc dịch vụ của người khác. Và, trong quá trình giao thương này, người có-lý-trí không mưu cầu hoặc mong muốn bất cứ gì nhiều hơn hoặc ít hơn những điều mà bản thân tự nỗ lực có được. Điều gì quyết định cái mà bản thân tự nỗ lực có được? Thị trường tự do, nghĩa là: sự lựa chọn tự nguyện và sự phán xét của những người sẵn sàng giao thương với nhau bằng nỗ lực của mình.

Khi một người giao thương với những người khác, anh ta đang – một cách tường minh hoặc ngầm ẩn – dựa vào sự có-lý-trí của họ, nghĩa là: dựa vào khả năng họ nhận ra giá trị khách quan trong hành động của anh ta. (Giao thương dựa vào bất kỳ tiền đề nào khác là trò bịp bợm hoặc sự gian lận.).

Do đó, trong một xã hội tự do, khi theo đuổi mục tiêu, người có-lý-trí sẽ không phó mặc bản thân cho vận may từ ý thích bất chợt, sự chiếu cố hoặc định kiến ​​của người khác; anh ta không phụ thuộc vào bất kì điều gì ngoài nỗ lực của chính mình: trực tiếp, bằng cách thực hiện hành động có giá trị khách quan – gián tiếp, thông qua sự phán xét khách quan của những người khác dành cho hành động của anh ta.

Chính trong ý nghĩa này, người có-lý-trí không bao giờ nắm giữ một ham muốn hoặc theo đuổi một mục tiêu nào đó mà bản thân không thể đạt được bằng nỗ lực của chính mình. Người có-lý-trí trao đi giá trị nhận lại giá trị. Bản thân anh ta không bao giờ tìm kiếm hoặc mong muốn những điều không dưng mà có (unearned). Nếu để đạt được mục tiêu mà đòi hỏi có sự hợp tác của nhiều người, anh ta sẽ không dựa vào gì khác ngoài năng lực của chính mình để thuyết phục và nhận lại sự đồng thuận một cách tự nguyện từ các đối tác.

Hiển nhiên, người có-lý-trí không bao giờ bóp méo hay phá bỏ tiêu chuẩn và việc phán xét của chính mình nhằm mục đích thu hút sự phi lý, ngu ngốc hay gian dối của những người khác. Anh ta biết làm vậy là tự sát. Anh ta biết rằng duy nhất cơ hội đạt được thành công ở mọi cấp độ trong thực tế hay bất cứ điều đáng khao khát nào của bản thân đều nằm trong việc giao thiệp với người có-lý-trí, cho dù số người kiểu này nhiều hay ít. Nếu, trong một loạt hoàn cảnh sẵn có nào đó, cơ hội chiến thắng rất mong manh, thì chỉ lý-trí mới có thể mang đến chiến thắng. Và, trong một xã hội tự do, cho dù cuộc đấu tranh có khó khăn đến đâu, chính lý-trí mới là chiến thắng cuối cùng.

Vì không bao giờ bỏ qua ngữ cảnh của những vấn đề phải đối mặt, người có-lý-trí chấp nhận rằng cuộc đấu tranh ấy liên quan đến lợi ích của bản thân – bởi anh ta biết rằng tự do là lợi ích của chính mình. Anh ta biết rằng cuộc đấu tranh để đạt được giá trị của bản thân bao gồm cả khả năng thất bại. Anh ta cũng biết rằng khi đối mặt với giới tự nhiên hay với những người khác, không có gì thay thế cho nỗ lực của con người và không có gì tự động đảm bảo rằng nỗ lực ấy sẽ luôn thành công. Vì vậy, anh ta không phán xét lợi ích của mình bằng thất bại cụ thể hay trong phạm vi của bất kỳ khoảnh khắc tức thời nào. Anh ta sống và phán xét trong phạm vi dài hạn. Đồng thời, anh ta chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc hiểu biết các điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu của mình.

(c) Trách nhiệm. Đây là dạng thức cụ thể của trách nhiệm thuộc về trí tuệ mà hầu hết mọi người đều trốn tránh. Chính sự trốn tránh là nguyên nhân chủ yếu của hụt hẫng và thất bại ở con người.

Hầu hết mọi người nắm giữ khát khao của bản thân bất chấp ngữ cảnh, như thể đích đến rơi vào khoảng không mơ hồ, sương mù che giấu mọi khái niệm về phương tiện. Họ thức tỉnh chính họ về mặt tinh thần chỉ vừa đủ để thốt lên “tôi ước gì”, rồi dừng lại ở đó, và chờ đợi, cứ như là phần còn lại bị phó mặc cho sức mạnh vô tri nào đó.

Cái họ trốn tránh là trách nhiệm phán xét thế giới xã hội (social world). Họ tiếp nhận thế giới như điều sẵn có. “Một thế giới tôi không bao giờ tạo ra” là bản chất sâu sắc nhất về thái độ của họ, và họ chỉ tìm cách điều chỉnh bản thân một cách dễ dãi theo các yêu cầu không thể hiểu được của những người không thể biết được, những người đã xây dựng thế giới này, bất kể đó là ai.

Nhưng khiêm nhường và tự phụ là hai mặt của cùng một biểu hiện tâm lý. Trong việc một người sẵn sàng mù quáng ném mình vào lòng thương xót của người khác, tồn tại một đặc quyền ngầm cho phép người này đưa ra những đòi hỏi mù quáng với chủ nhân của mình.

Có vô số cách mà loại “khiêm nhường siêu hình (metaphysical humility1)” này tự bộc lộ. Chẳng hạn, một người muốn giàu có, nhưng không bao giờ nghĩ đến việc tìm hiểu phương tiện, hành động và điều kiện cần thiết để đạt được tài sản. Anh ta là ai mà phán xét chứ? Anh ta không bao giờ tạo ra thế giới này – và “không ai cho anh ta cơ may.”.

Có cô gái mong muốn được yêu, nhưng không bao giờ nghĩ đến việc tìm hiểu tình yêu là gì, giá trị nào tình yêu cần phải có và liệu bản thân có sở hữu bất kỳ phẩm hạnh nào để được yêu. Cô ta là ai mà phán xét chứ? Cô ta cảm thấy tình yêu là đặc ân khó lý giải – vì vậy, cô ta chỉ mong chờ, cảm thấy rằng ai đó đã tước đoạt phần dành cho mình trong cái đặc ân này.

Có những bậc cha mẹ thực sự khổ tâm tột cùng, bởi vì con cái không yêu họ, và đồng thời, họ phớt lờ, phản đối hoặc cố gắng phá hủy mọi thứ họ biết về niềm tin, giá trị, mục tiêu của con mình. Họ không bao giờ nghĩ đến mối liên hệ giữa hai sự kiện này, không bao giờ cố gắng để hiểu con cái. Cái thế giới mà họ chưa bao giờ tạo ra, cũng không bao giờ dám thách thức, đã nói với họ rằng con cái yêu cha mẹ là điều hiển nhiên.

Có người muốn một công việc, nhưng không bao giờ nghĩ đến việc tìm hiểu xem trình độ mà công việc yêu cầu hoặc làm thế nào để hoàn thành tốt công việc. Anh ta là ai mà phán xét chứ? Anh ta không bao giờ tạo nên thế giới này. Ai đó nợ anh ta một cuộc sống. Bằng cách nào? Bằng cách nào đó.

Một ngày nọ, vị kiến ​​trúc sư người châu Âu mà tôi quen kể về chuyến đi đến Puerto Rico của anh ta. Anh ta mô tả – với giọng điệu lớn tiếng đầy căm phẫn – về điều kiện sống dơ bẩn của người Puerto Rico. Sau đó, anh ta bắt đầu diễn tả những điều tuyệt vời mà họ có thể được nhận từ một căn nhà tiện nghi, anh ta đã mộng tưởng đến từng chi tiết, gồm có cả tủ lạnh và phòng tắm lát gạch. Tôi hỏi: “Ai sẽ chi trả?” Anh ta trả lời, thoáng chút khó chịu, giọng nói gần như khàn đi: “Ồ, đó không phải là chuyện tôi phải lo! Nhiệm vụ của kiến ​​trúc sư chỉ là đề ra những gì nên được thực hiện. Hãy để người khác lo nghĩ tiền nong”.

Đó là tâm lý chung của tất cả các cuộc “cải cách xã hội” hay “hệ thống phúc lợi xã hội” hay “thử nghiệm quý giá” hay sự hủy diệt thế giới đã đến.

Trong việc từ bỏ trách nhiệm đối với lợi ích và sự sống của chính mình, người ta cũng chối bỏ trách nhiệm phải xem xét lợi ích và sự sống của những người khác – những người mà, bằng cách nào đó, mang đến sự thỏa mãn cho mong muốn của cá nhân này.

Bất cứ ai cho phép “bằng cách nào đó” trở thành quan điểm về phương tiện để đạt được mong muốn của bản thân, là tội lỗi của sự “khiêm nhường siêu hình” ấy, mà, về mặt tâm lý, là tiền đề của một kẻ ký sinh. Như Nathaniel Branden đã đề cập trong một bài giảng, “bằng cách nào đó” luôn hàm ý “một người nào đó”.

(d) Nỗ lực. Vì người có-lý-trí biết rằng con người phải đạt được mục tiêu của mình bằng nỗ lực của chính bản thân, anh ta biết rằng không phải sự giàu có hay công việc hay mọi giá trị của loài người tồn tại trong một đại lượng tĩnh, có giới hạn, sẵn có và đang chờ được phân chia. Anh ta hiểu rằng tất cả các lợi ích phải được tạo ra, rằng lợi ích của người này không đại diện cho sự mất mát của người kia, rằng thành tựu của một người không có được từ tổn thất của những người không đạt được thành tựu đó.

Do đó, bản thân người có-lý-trí không bao giờ tưởng tượng rằng mình có bất kỳ yêu sách đơn phương, không dưng mà có, đối với bất kỳ thực thể người nào đó – và cũng không bao giờ trông chờ lợi ích của mình từ sự thương xót của bất kỳ một người hay một điều cụ thể, riêng biệt, đơn lẻ nào. Người có-lý-trí có thể cần khách hàng, nhưng không phải bất kỳ một khách hàng nào – anh ta có thể cần một công việc, nhưng không phải bất kỳ một công việc nào.

Khi gặp phải sự cạnh tranh, người có-lý-trí sẽ đương đầu với điều đó hoặc chọn một tuyến công việc khác. Không có công việc nào tệ đến mức một năng lực tốt hơn, tài giỏi hơn lại không được chú ý, trân trọng; không như vậy trong một xã hội tự do. Hãy hỏi bất kỳ người quản lý văn phòng nào đó mà xem.

Chỉ những đại diện thụ động, ký sinh của trường phái “siêu hình học khiêm nhường” mới coi bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào cũng đều là mối đe dọa, bởi vì trong quan điểm sống của họ, không có lối suy nghĩ “đạt được một vị trí bằng chính nỗ lực cá nhân”. Họ tự coi mình là những kẻ tầm thường có thể hoán đổi cho nhau, những người không có gì để cho đi và những người đấu tranh, trong một vũ trụ “tĩnh”, vì đặc ân vô cớ của kẻ nào đó.

Người có-lý-trí biết rằng bản thân mình không sống nhờ vào “vận may rủi”, “cơ may”, hay thiên ý, rằng không có những điều như “cơ hội duy nhất” hoặc chỉ một cơ hội, và rằng điều này được đảm bảo chính xác bởi sự tồn tại của cạnh tranh. Người có-lý-trí không coi bất kỳ mục tiêu hay đại lượng cụ thể, đặc trưng nào như là điều không thể thay thế. Anh ta biết rằng chỉ có con người không thể thay thế được – duy chỉ những người anh ta yêu thương.

Người có-lý-trí cũng biết rằng không có xung đột lợi ích giữa những người có-lý-trí ngay cả trong vấn đề tình yêu. Giống như bất kỳ giá trị nào khác, tình yêu không phải là một đại lượng tĩnh có thể phân chia, mà là một hồi đáp vô hạn có thể nỗ lực đạt được. Yêu thương dành cho một người bạn không phải là mối đe dọa đối với tình yêu dành cho người bạn khác, và cũng không phải là mối đe dọa đối với tình yêu dành cho các thành viên khác nhau trong một gia đình, giả sử họ xứng đáng. Dạng thức độc đáo nhất – tình yêu lãng mạn – không phải là vấn đề tranh giành. Nếu hai người đàn ông cùng yêu một người phụ nữ, tình cảm của cô ấy đối với một trong hai người này không được định đoạt bởi tình cảm của cô dành cho người còn lại và cũng không bị tước đoạt vì người còn lại. Nếu cô chọn một trong hai người họ, thì đơn giản “người thua cuộc” vốn đã không thể có được những gì “người chiến thắng” xứng đáng.

Duy chỉ ở những người phi lý trí, bị cảm xúc dẫn dắt, mới có tình yêu tách khỏi mọi tiêu chuẩn giá trị, mới để việc ganh đua ngẫu nhiên, xung đột tình cờ và lựa chọn mù quáng chiếm ưu thế. Để rồi, ai thắng sẽ hầu như không thắng hẳn. Trong sự chi phối hoàn toàn bởi cảm xúc, không có tình yêu hay bất kỳ cảm xúc nào có ý nghĩa.

Về bản chất cốt lõi, đó là bốn sự suy xét chính yếu, liên quan đến quan điểm về lợi ích của người có-lý-trí.

Bây giờ, chúng ta hãy quay trở lại câu hỏi ban đầu – chuyện hai người ứng tuyển cho cùng một công việc – và quan sát xem theo cách nào vấn đề đó bỏ qua hoặc chống lại bốn yếu tố này.

(a) Thực tại. Sự thật duy nhất rằng việc cả hai đều mong muốn cùng một công việc không phải là bằng chứng cho thấy một trong hai người được quyền hưởng hoặc xứng đáng với công việc đó, và cũng không cho thấy rằng lợi ích cá nhân của người này bị tổn hại nếu không có được công việc nêu trên.

(b) Ngữ cảnh. Cả hai người phải biết rằng nếu họ mong muốn cùng một công việc, mục tiêu của họ chỉ được thực hiện khi một doanh nghiệp hiện hữu có thể cung cấp việc làm – và rằng vị trí đó đòi hỏi phải có nhiều hơn một ứng viên – rằng nếu chỉ có một ứng viên nộp đơn, người này sẽ không có được công việc, bởi vì doanh nghiệp sẽ phải ngừng hoạt động – rằng sự cạnh tranh của các ứng viên đối với công việc là vì lợi ích của chính họ, mặc dù một trong số họ sẽ thua trong cuộc gặp gỡ cụ thể đó.

(c) Trách nhiệm. Không ai có quyền đạo đức để tuyên bố rằng bản thân mình không muốn suy xét tất cả những điều đó, mà chỉ muốn một công việc. Người ta không có quyền đối với bất kỳ mong muốn nào hoặc bất kỳ lợi ích nào mà không biết đến những yêu cầu cần phải có để có thể đáp ứng nó.

(d) Nỗ lực. Bất cứ ai có được công việc, đều nỗ lực để đạt được (giả sử rằng nhà tuyển dụng lựa chọn dựa trên lý trí). Lợi ích này là do công lao của chính bản thân mình – không phải do sự “hy sinh” của người khác, người chưa từng được trao bất kỳ quyền nào đối với công việc đó. Việc không trao cho một người những thứ chưa bao giờ thuộc về anh ta không được miêu tả như là “hy sinh lợi ích của anh ta”.

Tất cả các thảo luận ở trên chỉ áp dụng cho các mối quan hệ giữa những người có-lý-trí và trong một xã hội tự do. Trong một xã hội tự do, con người không phải giao thương với những người phi lý trí. Con người không bị ràng buộc bởi kẻ phi lý trí.

Trong một xã hội không có tự do, không ai có thể theo đuổi bất kỳ lợi ích nào; không gì là có thể ngoại trừ sự phá hủy dần dần và toàn thể.

Tháng Tám năm 1962


  1. Tức là nắm giữ quan điểm cho rằng con người không thể hoàn toàn biết thực tại, bản chất sự vật, hay sự tồn tại, mà lại chấp nhận sự mơ hồ, mâu thuẫn. Tham khảo thêm Lexicon Metaphysical ↩︎

<<Trở lại mục lục>>

Bình luận về bài viết này