Quy Chuẩn Đạo Đức Trong Tình Huống Khẩn Cấp

VOS | AYN RAND (1963)


Kết quả nghiên cứu tâm lý học của chủ nghĩa vị tha đã chỉ ra một thực tế rằng: Rất nhiều người tiếp cận chủ đề đạo đức bằng những câu hỏi như:

Có nên liều mạng sống của mình để cứu một người mà

  1. Sắp chết đuối
  2. Mắc kẹt trong đám cháy
  3. Đứng trước đầu mũi xe tải đang lao quá tốc độ
  4. Treo lơ lửng bên rìa vực thẳm

Hãy xem xét ẩn ý của phương thức tiếp cận đó. Nếu chấp nhận đạo đức của chủ nghĩa vị tha, người này sẽ chịu những hậu quả như sau (tỷ lệ thuận với mức độ chấp nhận):

  1. Thiếu tự tôn – mối bận tâm hàng đầu của người này trong phạm vi giá trị không phải là sống như thế nào, mà là hy sinh sự-sống ra sao.
  2. Thiếu tôn trọng đối với người khác – người này coi loài người như lũ ăn xin chịu số phận bi đát, đang gào khóc để được người khác giúp đỡ.
  3. Một quan điểm ác mộng về sự tồn tại – người này tin rằng con người bị mắc kẹt trong “vũ trụ tà ác1” nơi những thảm họa là mối bận tâm hàng đầu, không ngớt trong cuộc đời của họ.
  4. Và thực tế, đó là một thái độ bàng quan thờ ơ với những quy chuẩn đạo đức, một sự thiếu đạo đức trong vô vọng, yếm thế – những điều họ đề cập đến là những tình huống mà họ gần như không bao giờ gặp phải, vốn không liên quan đến những vấn đề thực trong cuộc đời của chính họ; và do đó, khiến họ sống mà không có bất kì quy chuẩn đạo đức nào.

Khi nâng vấn đề giúp đỡ người khác thành vấn đề đạo đức trọng điểm và chính yếu, chủ nghĩa vị tha đã phá hủy hoàn toàn khái niệm về lòng nhân ái và thiện chí thật sự của con người. Người ta truyền bá một tư tưởng cho rằng coi trọng người khác là hành động vị tha, vì thế ngụ ý rằng một người không thể có lợi ích cá nhân nào ở người khác – nghĩa là coi trọng người khác là phải hy sinh bản thân mình – rằng bất kỳ tình yêu, sự tôn trọng hay ngưỡng mộ của một cá nhân dành cho người khác không phải và không thể là nguồn hưởng thụ của anh ta, mà là mối đe dọa đối với sự sống của bản thân anh ta, là thẩm quyền hy sinh vô bờ dành cho người thân yêu của anh ta.

Những kẻ chấp nhận sự phân đôi này nhưng lựa chọn đứng về phe thiểu số của nó2 – những kẻ tâm thần ấy chính là sản phẩm ở mức cao nhất từ ảnh hưởng phi nhân tính của chủ nghĩa vị tha – không chất vấn tiền đề cơ bản của chủ nghĩa vị tha, mà tuyên bố nổi loạn chống lại sự hy sinh bản thân bằng cách loan báo rằng họ hoàn toàn thờ ơ với bất cứ điều gì đang tồn tại và sẽ không hề làm gì để giúp một người hoặc một chú chó bị gã tài xế nào đó tông phải rồi bỏ chạy (gã tài xế này thường cùng kiểu giống họ).

Hầu hết loài người đều không chấp nhận cũng không tuân theo bất cứ phe nào ở sự phân đôi sai lầm, ác ý của chủ nghĩa vị tha, nhưng kết quả của nó vẫn là sự hỗn loạn trí tuệ hoàn toàn trong vấn đề về mối quan hệ đúng đắn của con người và trong những câu hỏi như bản chất, mục đích hoặc mức độ mà một người có thể giúp đỡ người khác. Ngày nay, rất nhiều người sống có lý trí và có thiện chí vẫn không biết cách xác định hoặc không có khái niệm về các nguyên tắc đạo đức thúc đẩy cho tình yêu, tình cảm hoặc thành ý của họ, và không thể tìm thấy chỉ dẫn nào trong phạm vi đạo đức vốn đã bị chi phối bởi các tuyên bố sáo rỗng cũ kỹ của chủ nghĩa vị tha.

Về câu hỏi tại sao con người không phải là vật hiến tế và tại sao giúp đỡ người khác không phải là bổn phận đạo đức, bạn có thể tham khảo quyển Atlas Shrugged. Cuộc thảo luận hôm nay chỉ liên quan đến các nguyên tắc mà qua đó con người xác định và đánh giá các trường hợp liên quan đến sự giúp đỡ không-cần-hy-sinh của một người đối với người khác.

“Hy sinh” là sự từ bỏ một giá trị lớn hơn vì lợi ích của một thứ ít giá trị hơn hoặc không có giá trị nào. Do đó, chủ nghĩa vị tha đo lường phẩm hạnh của con người theo mức độ đầu hàng, từ bỏ hoặc phản bội các giá trị của bản thân (bởi vì giúp đỡ người lạ hoặc giúp kẻ thù được coi là có đạo đức, bớt “ích kỷ”, hơn là giúp đỡ những người yêu thương). Nguyên tắc ứng xử hợp lý ngược lại hoàn toàn: luôn hành động tương ứng theo thứ bậc giá trị của bản thân và không bao giờ hy sinh giá trị lớn hơn cho giá trị thấp hơn.

Điều này áp dụng cho tất cả các lựa chọn, bao gồm cả hành động của một cá nhân hướng đến những người khác. Nó đòi hỏi con người phải có một hệ thống phân cấp rõ ràng về các giá trị dựa trên lý trí (các giá trị được lựa chọn và xác nhận theo tiêu chuẩn mang tính lý trí). Nếu không có một hệ thống phân cấp như vậy, sẽ không có hành vi mang tính lý trí, cũng không có những phán xét giá trị hay lựa chọn đạo đức nào có thể thực hiện được.

Tình yêu và tình bạn là những giá trị hết sức cá nhân, vì-mình: tình yêu là sự thể hiện và khẳng định lòng tự tôn, là sự hồi đáp những giá trị của chính mình trong bản thân người bạn đời. Con người đạt được niềm vui riêng tư, vị kỷ một cách sâu sắc từ sự tồn tại đơn thuần của người mình yêu. Đó là hạnh phúc cá nhân, vị kỷ của bản thân mà người ta tìm kiếm, đạt được và bắt nguồn từ tình yêu.

Một tình yêu “vị tha”, “không-tư-lợi” là sự mâu thuẫn về khái niệm: nó có nghĩa là người này thờ ơ với những gì mà mình coi trọng.

Quan tâm đến phúc lợi của những người mà ta yêu thương là một phần phải lẽ về quyền ích kỷ của con người. Nếu một người yêu vợ say đắm, dành cả gia tài để chữa trị cho cô ấy khỏi một căn bệnh hiểm nghèo, thì thật phi lý khi cho rằng anh ta làm điều đó như một sự “hy sinh” vì lợi ích của cô vợ, chứ không phải của chính anh ta, và thật phi lý khi cho rằng về mặt cá nhân và vì-mình, dù cô vợ sống hay chết cũng chẳng có gì khác biệt với anh ta.

Trong hệ thống phân cấp các giá trị, trong tổng thể ngữ cảnh của những chọn lựa, bất kì hành động nào được thực hiện vì lợi ích của người ta yêu thương đều không phải là hy sinh nếu hành động ấy nhằm đạt được điều quan trọng mang tính cá nhân (và mang tính lý trí) lớn nhất đối với ta. Trong ví dụ trên, sự sống của người vợ có giá trị to lớn đối với người chồng, hơn bất cứ thứ gì khác mà tiền của anh ta có thể mua được. Sự sống của người vợ là điều quan trọng nhất đối với hạnh phúc của chính người chồng và do đó, hành động của anh ta không phải là sự hy sinh.

Nhưng giả sử anh ta để mặc vợ mình chết đi và dùng tiền của mình cứu mạng mười người phụ nữ khác, không ai trong số họ có ý nghĩa gì với anh ta – như đạo đức của chủ nghĩa vị tha đề cập, đó sẽ là một sự hy sinh. Ở đây, có thể thấy rõ sự khác biệt giữa chủ nghĩa Khách quan và chủ nghĩa vị tha: nếu hy sinh là nguyên tắc hành động có đạo đức, thì người chồng đó phải hy sinh vợ mình vì quyền lợi của mười người phụ nữ khác. Điều gì tạo nên khác biệt giữa người vợ với mười người khác? Không có gì ngoài giá trị của người vợ đối với người chồng, khiến anh ta phải đưa ra lựa chọn, không có gì ngoài sự thật rằng hạnh phúc của người chồng cần phải có sự sống của người vợ.

Đạo đức học Khách quan luận sẽ nói với anh ta rằng: mục đích tối thượng của đạo đức là đạt được hạnh phúc của riêng bạn, tiền của bạn là của bạn, hãy sử dụng nó để cứu vợ mình, đó là quyền đạo đức và là sự lựa chọn hợp đạo đức, mang tính lý trí của bản thân bạn.

Hãy xem xét cốt lõi của những nhà đạo đức học theo xu hướng vị tha, người sẽ sẵn sàng nói với người chồng điều ngược lại. (Vậy, hãy tự hỏi bản thân rằng liệu chủ nghĩa vị tha có được thúc đẩy bởi lòng nhân từ không.).

Phương pháp thích hợp để đánh giá khi nào hoặc liệu một người có nên giúp đỡ người khác hay không là, tham chiếu đến việc cân nhắc sự tư lợi dựa trên lý trí của bản thân và hệ thống phân cấp các giá trị của riêng mình: thời gian, tiền bạc, nỗ lực hoặc mức độ rủi ro phải tương xứng với giá trị của người liên quan đến hạnh phúc của chính mình.

Tôi sẽ minh họa vấn đề này bằng ví dụ yêu thích của chủ nghĩa vị tha: vấn đề cứu người bị đuối nước. Nếu người được cứu là một người xa lạ, thì về mặt đạo đức, sẽ hợp lý nếu việc cứu anh ta được thực hiện khi xác suất nguy hiểm đến tính mạng của chính mình rất nhỏ. Khi tình trạng thực sự nguy hiểm, sẽ là trái đạo đức nếu cố gắng thực hiện cứu người: chỉ những kẻ thiếu tự tôn mới cho phép bản thân coi mạng sống của mình không bằng mạng của một người lạ bất kì (Và ngược lại, người bị đuối nước không thể mong đợi một người lạ mạo hiểm mạng sống vì họ, hãy nhớ rằng sự sống của một người không thể có giá trị ngang với ai khác ngoài với chính bản thân mình).

Nếu người được cứu không phải là người xa lạ, thì người ta sẵn sàng chấp nhận rủi ro lớn hơn, tương xứng với giá trị to lớn của người-được-cứu đối với chính bản thân người-thực-hiện-cứu. Nếu đó là người mà ta yêu, thì ta có thể sẵn sàng mạo hiểm tính mạng của mình để cứu người ấy – vì lý do vị kỷ rằng khó mà chịu đựng nổi khi sống không có người mình yêu.

Ngược lại, nếu người chồng có thể bơi để cứu vợ đang bị đuối nước, nhưng lại trở nên hoảng loạn, sợ hãi một cách phi lý, không lý giải được và để cô ấy chết đuối, sau đó dành cả đời trong sự cô đơn và đau khổ – người ta sẽ không gọi anh ta là “ích kỷ”; người ta sẽ lên án anh ta về mặt đạo đức vì phản bội bản thân và phản bội các giá trị của chính mình, đó là: anh ta không đấu tranh để giữ gìn giá trị quan trọng đối với hạnh phúc của bản thân. Nên nhớ rằng các giá trị là điều mà một người hành động để đạt được và/hoặc giữ gìn, và rằng hạnh phúc của chính mình phải đạt được bằng nỗ lực của chính bản thân mình. Vì hạnh phúc của mỗi cá nhân là mục đích mang tính đạo đức trong cuộc đời của mỗi người, thế nên một người không đạt được hạnh phúc vì lỗi của chính mình, vì không chiến đấu cho hạnh phúc, là, sự tội lỗi về mặt đạo đức.

Phẩm hạnh có liên quan đến việc giúp đỡ những người ta yêu thương không phải là “vị tha” hay “hy sinh”, mà là tính nhất quán/toàn vẹn. Nhất quán là trung thành với niềm tin và giá trị của bản thân; đó là phương hướng hành động phù hợp với các giá trị của chính mình, là phương hướng thể hiện, phát huy và biến chúng thành hiện thực thực tiễn. Nếu một người đàn ông tuyên bố yêu một người phụ nữ, nhưng hành động của anh ta lại thờ ơ, gây hại hoặc tổn thương cô ấy, thì chính sự thiếu nhất quán đó khiến anh ta trở nên vô đạo đức.

Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho các mối quan hệ giữa những người bạn. Nếu bạn bè của ta gặp rắc rối, ta nên giúp họ bằng bất kể phương-pháp-không-hy-sinh nào phù hợp. Chẳng hạn, nếu bạn của ta đang đói, ta đưa họ tiền mua thức ăn thay vì mua cho bản thân món đồ không cần thiết, đó không phải là sự hy sinh, mà là hành động nhất quán, bởi vì phúc lợi của người bạn là thước đo giá trị vô cùng quan trọng đối với bản thân ta. Nếu món đồ có ý nghĩa lớn hơn nỗi khổ của người bạn kia, thì ta không có quyền giả vờ làm bạn của anh ta.

Việc thực thi trong thực tiễn về tình bạn, tình thân và tình yêu thực sự bao gồm sự kết hợp lợi ích (lợi ích dựa trên lý trí) của những người có liên quan trong chính hệ thống phân cấp các giá trị của mỗi người, từ đó đưa ra hành động tương xứng.

Nhưng đây là sự-hưởng-thụ-chính-đáng-từ-giá-trị mà con người phải tự nỗ lực đạt được thông qua phẩm hạnh của họ và không ai có thể ban phát điều đó cho những người chỉ quen biết hoặc xa lạ.

Vậy, ta nên cho người lạ điều gì một cách thích đáng? Sự tôn trọng và thiện chí phổ quát là thứ mà ta nên trao cho con-người dựa theo giá trị tiềm năng của chính người này, cho đến khi và trừ khi người này từ bỏ nó.

Một người có lý trí đừng quên rằng sự sống là cội nguồn của mọi giá trị, và theo nghĩa hẹp, là một mối liên kết chung giữa những sinh vật sống (so với vật chất vô tri), rằng những người khác cũng có khả năng đạt được các phẩm hạnh giống như chính anh ta và do đó, trở thành giá trị to lớn đối với anh ấy. Điều này không có nghĩa là anh ta có thể hoán đổi sự sống của chính mình với người khác. Cần nhận ra sự thật rằng sự sống của chính mình là cội nguồn, không chỉ của tất cả các giá trị ở bản thân, mà còn là khả năng thu nhận giá trị của bản thân. Do đó, giá trị anh ta trao cho người khác chỉ là một hệ quả, một sự bổ sung, một sự phóng chiếu thứ yếu của một giá trị chính yếu, vốn là bản thân anh ta.

“Sự tôn trọng và thiện chí mà người có lòng tự tôn dành cho những người khác là sự vị kỷ sâu sắc; thực tế, họ cảm thấy ‘Những người khác có giá trị vì họ cùng loài với tôi’. Bằng việc coi trọng những thực thể sống, họ cũng đang coi trọng sự sống của chính mình. Đây là nền tảng tâm lý cơ bản về cảm xúc thương cảm và bất kì cảm giác nào liên quan đến  ‘sự đoàn kết của giống loài3’ ”.

Vì con người khi được sinh ra vốn như trang giấy trắng, cả về mặt nhận thức lẫn đạo đức, nên một người có lý trí sẽ coi người lạ là vô tội cho đến khi được chứng minh có tội, và trao cho họ những thiện chí ban đầu nhân danh tiềm năng con người của họ. Sau đó, anh ta phán xét họ theo phẩm chất đạo đức mà họ đã hiện thực hóa. Nếu anh ta thấy họ phạm phải những tội ác lớn, thì những thiện chí của anh ta sẽ được thay thế bằng sự khinh miệt và sự lên án về mặt đạo đức. (Nếu một người coi trọng sự sống của con người, người này không thể xem trọng kẻ hủy diệt sự sống.). Nếu người này thấy họ là người có phẩm hạnh, anh ta trao họ giá trị cá nhân, riêng tư và sự cảm kích, tỉ lệ thuận với phẩm hạnh của họ.

Chính nền tảng đó tạo nên thiện chí và sự tôn trọng đối với giá trị sự sống của con người, khiến người ta giúp đỡ những người lạ trong trường hợp khẩn cấp – và chỉ trong trường hợp khẩn cấp.

Điều quan trọng là phải phân biệt giữa các quy tắc ứng xử trong tình huống khẩn cấp và quy tắc ứng xử trong điều kiện bình thường về sự tồn tại của con người. Điều đó không có nghĩa là một tiêu chuẩn kép về đạo đức: tiêu chuẩn và các nguyên tắc cơ bản vẫn như nhau, nhưng áp dụng chúng cho cả hai trường hợp đòi hỏi sự xác định chính xác.

Trường hợp khẩn cấp là một sự kiện không mong muốn, không được lựa chọn, bị giới hạn về thời gian, tác động xấu đến sự sống còn của con người – như lũ lụt, động đất, hỏa hoạn, đắm tàu. Trong tình huống khẩn cấp, mục tiêu chính của con người là chống lại thảm họa, thoát khỏi nguy hiểm và khôi phục lại các điều kiện bình thường (đến vùng đất không lũ lụt, dập lửa, v.v.).

Khi nói điều kiện “bình thường”, ý tôi là bình thường theo siêu hình học, bình thường trong bản chất của sự vật/sự việc và phù hợp với sự tồn tại của con người. Con người có thể sống trên cạn, nhưng không thể sống trong nước hoặc trong một đám cháy dữ dội. Vì con người không toàn năng, nên việc những thảm họa không lường trước tấn công họ là việc hoàn toàn có thể về mặt siêu hình học; trong trường hợp đó, nhiệm vụ duy nhất của họ là quay trở lại những điều kiện sống cũ để có thể tiếp tục sự sống. Về bản chất, một tình huống khẩn cấp chỉ mang tính tạm thời; nếu nó kéo dài, con người sẽ diệt vong.

Chỉ trong tình huống khẩn cấp, ta mới tình nguyện giúp đỡ người lạ trong khả năng có thể. Chẳng hạn, một người coi trọng tính mạng con người và đang bị mắc kẹt trong một vụ đắm tàu, sẽ giúp đỡ để cứu những hành khách đi cùng chuyến tàu (mà không phải trả giá bằng chính mạng sống của bản thân). Nhưng điều này không có nghĩa là sau khi tất cả đã lên bờ, người này phải nỗ lực để cứu những người khách đồng hành khỏi nghèo đói, thiếu hiểu biết, rối loạn thần kinh hoặc bất kỳ rắc rối nào khác mà họ có thể gặp phải. Điều đó cũng không có nghĩa là người này nên dành cả cuộc đời đi khắp các đại dương để tìm kiếm và cứu các nạn nhân đắm tàu.

Hoặc lấy một ví dụ có thể xảy ra trong cuộc sống hàng ngày: giả sử người láng giềng bị bệnh và không một xu dính túi. Bệnh tật và nghèo đói không phải là những trường hợp khẩn cấp thuộc về siêu hình học. Chúng chỉ là một phần những rủi ro thông thường trong cuộc sống; nhưng vì tạm thời chưa ai giúp đỡ người hàng xóm này, và nếu ta có khả năng mua thức ăn cùng thuốc men, ta có thể mang chúng cho người hàng xóm (như một hành động thiện chí, không phải bổn phận) hoặc ta có thể vận động những người hàng xóm khác gây quỹ để giúp người này. Nhưng điều này không có nghĩa là từ đó về sau ta phải hỗ trợ anh ta, cũng không nghĩa là ta dành cả cuộc đời để tìm kiếm những người nghèo đói để giúp đỡ.

Trong điều kiện bình thường của sự sống, con người phải lựa chọn mục tiêu của mình, lên kế hoạch kịp thời, theo đuổi chúng và đạt được chúng bằng nỗ lực của chính mình. Ta không thể làm điều đó nếu mục tiêu của ta bị phó mặc và phải hy sinh cho bất kỳ điều không may nào xảy ra với người khác. Ta không thể sống cuộc đời của mình bằng chỉ dẫn của những nguyên tắc chỉ áp dụng cho các điều kiện mà theo đó ta không thể duy trì sự sống của bản thân.

Nguyên tắc về việc giúp đỡ người khác trong trường hợp khẩn cấp không thể mở rộng đến mức xem tất cả sự đau khổ của con người là trường hợp khẩn cấp và biến bất hạnh của một số người thành khoản thế chấp chính yếu mà phải trả bằng chính sự sống của người khác.

Nghèo đói, thiếu hiểu biết, bệnh tật và các vấn đề tương tự khác không phải là trường hợp khẩn cấp thuộc về siêu hình học. Theo bản chất siêu hình học của con người và của sự tồn tại, con người phải duy trì sự sống bằng nỗ lực của chính mình; những giá trị mà ta cần – chẳng hạn như sự giàu có hay tri ​​thức – không phải món quà thiên nhiên ban tặng một cách tự động, mà phải được khám phá và đạt được bằng chính tư duy và hành động của bản thân. Về mặt này, nghĩa vụ duy nhất của người đối với người là duy trì một hệ thống xã hội để con người tự do đạt được, thu nhận và giữ gìn các giá trị của mình.

Mỗi bộ quy tắc đạo đức đều dựa trên và xuất phát từ phạm vi siêu hình học, tức là: từ một lý thuyết về bản chất cốt yếu của vũ trụ nơi con người sống và hành động. Quy chuẩn đạo đức vị tha dựa trên quan điểm siêu hình học “vũ trụ tà ác”, dựa trên lý thuyết rằng con người, tự bản chất, là bất lực và cam chịu – rằng thành công, hạnh phúc, và thành tựu là những điều bất khả đối với họ – rằng sự cố khẩn cấp, thảm họa, tai ương mới là quy chuẩn của sự sống, và rằng mục tiêu sống còn của con người là chống lại chúng.

Với tư cách là sự bác bỏ mang tính thực nghiệm đơn giản nhất đối với hệ thống siêu hình học đó – với tư cách là dữ-liệu-bằng-chứng cho thực tế rằng vũ trụ vật chất không thù địch với con người và rằng thảm họa chỉ là ngoại lệ, chứ không phải quy luật tồn tại của con người – hãy quan sát những khoản lợi nhuận mà các công ty bảo hiểm kiếm được.

Quan sát cũng cho thấy những người ủng hộ chủ nghĩa vị tha không thể đặt nền tảng đạo đức của họ vào bất kỳ sự kiện nào về sự tồn tại bình thường của con người và rằng họ luôn đưa ra tình huống “xuồng cứu sinh” làm ví dụ để rút ra các quy tắc ứng xử đạo đức. (“Bạn nên làm gì nếu bạn và một người khác cùng ở trên một chiếc xuồng cứu sinh có sức chứa một người?”, v.v.)

Sự thật là, con người không sống trên xuồng cứu sinh – và sự thật là, xuồng cứu sinh không phải là cơ sở nền tảng cho quan điểm siêu hình học của một người.

Mục đích đạo đức của đời người là đạt được hạnh phúc của riêng mình. Điều này không có nghĩa là ta thờ ơ với tất cả mọi người, không có nghĩa rằng mạng sống của con người không có giá trị gì với ta và ta không có lý do để giúp đỡ người khác trong trường hợp khẩn cấp. Mà điều đó thật sự nghĩa là ta không để sự sống của mình lệ thuộc vào lợi ích của người khác, rằng ta không hy sinh bản thân mình cho nhu cầu của người khác, rằng việc giảm bớt đau khổ cho người khác không phải là mối quan tâm chính của bản thân ta, rằng bất kỳ sự giúp đỡ nào bản thân ta làm đều là ngoại lệ, không phải nguyên tắc, là một hành động của sự rộng lượng, không phải bổn phận đạo đức, rằng đó chỉ là sự việc ngẫu nhiên và bên lề – giống như các thảm họa là ngẫu nhiên và bên lề sự sống của loài người – và rằng các giá trị, chứ không phải thảm họa, là mục tiêu, mối bận tâm hàng đầu và là động lực của đời người.

(Tháng Hai năm 1963)


  1. Tham khảo Malevolent Universe Premise ↩︎
  2. Chủ nghĩa vị tha đưa ra sự phân đôi: 1/Vị tha tức là quan tâm/yêu thương người khác tức là hy sinh bản thân mình; 2/ Không quan tâm/yêu thương người khác, tức là chọn không hy sinh bản thân. Ở đây nói về những người chọn 2 trong khi quy chuẩn xã hội đa số chọn 1. ↩︎
  3. [VOS] Nathaniel Branden, “Benevolence versus Altruism [Nhân từ và vị tha],” The Objectivist Newsletter, tháng 7/1962.  ↩︎

<<Trở lại mục lục>>

Bình luận về bài viết này