Lời giới thiệu

VOS | AYN RAND


Tựa đề quyển sách này có thể gợi lên thắc mắc mà tôi thỉnh thoảng nghe được: “Tại sao bà lại dùng từ “vị kỷ” để biểu thị những phẩm chất tốt đẹp của tính cách, cụm từ này vấp phải sự phản đối của quá nhiều người. Đối với họ, nó không hề mang ý nghĩa mà bà muốn hướng tới?”

Câu trả lời của tôi dành cho những ai có cùng thắc mắc: “Vì chính lí do khiến mọi người e dè thuật ngữ đó.”

Song, cũng có những người, tuy không đặt câu hỏi vì cảm nhận được rằng nó ngụ ý một sự hèn nhát về đạo đức, nhưng lại không thể trình bày chính xác lí do thực sự của tôi hoặc không thể nhận ra vấn đề về đạo đức cực kì sâu xa có liên quan. Dành cho những người này, tôi sẽ đưa ra một câu trả lời rõ ràng và chi tiết hơn.

Đây không chỉ là vấn đề ngữ nghĩa hay vấn đề lựa chọn tuỳ tiện. Ý nghĩa được gán cho cụm từ “vị kỷ” trong cách sử dụng phổ biến của thuật ngữ này không chỉ đơn thuần sai: nó đại diện một “thoả thuận trọn gói[1]” phá hủy trí tuệ, mà hơn bất kì yếu tố đơn lẻ nào khác, nó phải chịu trách nhiệm cho sự ngưng trệ trong quá trình phát triển đạo đức của loài người.

Theo nghĩa được sử dụng phổ biến, “vị kỷ” là từ đồng nghĩa của cái xấu/cái ác; nó gợi lên hình ảnh của một kẻ súc vật tàn bạo, giẫm đạp lên những xác người chất đống để đạt được mục đích của riêng mình, chẳng màng tới bất kì sinh vật sống nào, và không theo đuổi gì ngoài việc thỏa mãn sự tùy hứng vô tri ở bất kỳ khoảnh khắc nhất thời.

Tuy nhiên, nghĩa chính xác đồng thời định nghĩa trong tự điển của “vị kỷ” lại là: sự quan tâm đến những lợi ích của bản thân mình.

Khái niệm này không bao gồm sự phán xét về mặt đạo đức; nó không cho chúng ta biết liệu sự quan tâm đến những quyền lợi cá nhân của một người là tốt hay xấu; nó cũng không cho thấy điều gì cấu thành những quyền lợi thực sự của con người. Việc trả lời những câu hỏi như vậy là nhiệm vụ của đạo đức học.

Và để trả lời, đạo đức của chủ nghĩa vị tha[2] đã tạo ra hình ảnh tên súc vật, khiến con người chấp nhận hai nguyên lí vô đạo đức: (a) rằng bất kì sự quan tâm nào đến quyền lợi của cá nhân đều xấu xa, bất kể những quyền lợi này là gì, và (b) rằng tất cả những hoạt động của tên súc vật đều thực sự chỉ vì lợi ích cá nhân (điều mà chủ nghĩa vị tha buộc con người phải từ bỏ, ủng hộ cho quyền lợi của những người xung quanh).

Để hiểu hơn về bản chất của chủ nghĩa vị tha, hậu quả và sự tàn ác của những mục nát về đạo đức mà nó gây ra, tôi giới thiệu bạn tới tác phẩm Atlas Shrugged – hay tới bất kì một tiêu đề báo chí nào hiện nay. Còn ở đây, điều chúng ta quan tâm là sự mặc định của chủ nghĩa vị tha trong lĩnh vực lý thuyết đạo đức.

Có hai câu hỏi về mặt đạo đức mà chủ nghĩa vị tha gom lại thành một “thoả thuận trọn gói”: (1) Các giá trị là gì? (2) Ai nên là người được thụ hưởng các giá trị? Chủ nghĩa vị tha lấy câu thứ hai thay cho câu thứ nhất; nó né tránh nhiệm vụ xác định một chuẩn mực giá trị đạo đức, do đó, nó chẳng hề đưa cho con người bất kì hướng dẫn nào về mặt đạo đức.

Chủ nghĩa vị tha tuyên bố rằng bất cứ hành động nào thực hiện vì lợi ích của người khác đều tốt, và bất kì hành động nào vì lợi ích cá nhân đều xấu. Theo đó, người thụ hưởng của hành động là tiêu chuẩn duy nhất của giá trị đạo đức – và miễn sao người thụ hưởng kia là bất kỳ ai khác ngoài bản thân thì cái gì cũng hợp.

Từ đó sự vô đạo đức tồi tệ, sự bất công thâm căn cố đế, những tiêu chuẩn kép lố bịch, các xung đột và mâu thuẫn không thể giải quyết được đã hình thành nên các đặc điểm của mối quan hệ con người và xã hội loài người xuyên suốt lịch sử, dưới tất cả các biến thể của đạo đức vị tha.

Hãy quan sát sự thiếu đúng đắn của những gì được các đánh giá đạo đức ngày nay chấp nhận. Một nhà tư bản công nghiệp sản xuất ra của cải, và một gã xã hội đen cướp ngân hàng đều được xem là vô đạo đức ngang nhau bởi vì cả hai đều tìm kiếm vật chất cho quyền lợi “vị kỷ” của bản thân. Một chàng trai trẻ từ bỏ sự nghiệp cá nhân để giúp đỡ bố mẹ, và không bao giờ vượt hơn mức một nhân viên tạp hoá, được xem là có đạo đức vượt trội so với chàng trai phải chịu đựng cuộc chiến đầy đau đớn và đạt được tham vọng của chính mình. Một kẻ độc tài cũng được xem là có đạo đức vì những hành vi tàn bạo không kể xiết của hắn chủ ý hướng tới lợi ích cho “công chúng”, không phải cho bản thân hắn.

Hãy quan sát cái đạo đức về tiêu chí người thụ hưởng của chủ nghĩa vị tha gây ra những gì cho sự sống của một người. Điều đầu tiên ta học được, là, đạo đức chính là kẻ thù của mình; ta chẳng được lợi lộc gì từ nó, mà chỉ có thể thua trắng; chẳng có gì để trông đợi ngoài sự mất mát, nỗi đau đớn tự mình gánh chịu cùng với sự chán ngán, u ám và kiệt sức thuộc về một bổn phận không cách nào hiểu nổi. Ta có thể hi vọng rằng thi thoảng người khác sẽ hy sinh[3] cho lợi ích của ta, cũng như ta vẫn bất đắc dĩ hy sinh bản thân mình cho lợi ích của họ, nhưng ta cũng biết rằng mối quan hệ này sẽ chỉ mang đến sự oán hận lẫn nhau chứ không phải niềm vui thích – và vì vậy, về mặt đạo đức, sự theo đuổi giá trị này sẽ giống như việc trao đổi những món quà Giáng Sinh không cần đến, không được chọn, mà cũng theo đạo đức, chẳng có món nào trong đó là được phép tự mua cho mình. Trừ những lúc ta cố gắng thực hiện những hành vi tự hy sinh, ta chẳng hề có tí giá trị đạo đức nào cả: đạo đức không hề lưu ý tới ta và chẳng đưa ra một hướng dẫn nào về những vấn đề cốt yếu trong cuộc sống; đó chỉ là cuộc sống “vị kỷ”, cá nhân, riêng tư của ta và, vì thế, nó được xem là xấu xa, hay khá nhất cũng là, phi đạo đức.

Vì tự nhiên không ban cho con người một dạng thức sinh tồn tự động, vì sự sống của con người phải nhờ cậy vào nỗ lực của chính bản thân, nên học thuyết cho rằng việc quan tâm đến quyền lợi của bản thân là xấu xa, đồng nghĩa với việc, khao khát sống của bản thân cũng là xấu xa – rằng sự sống của con người, theo đúng nghĩa của thuật ngữ này, là xấu xa. Không một học thuyết nào có thể tệ hại hơn thế.

Vậy nhưng, đó lại là ý nghĩa của chủ nghĩa vị tha, ngầm ẩn trong những ví dụ, như, đồng nhất nhà tư bản công nghiệp với một tên cướp. Có một sự khác biệt cốt yếu về mặt đạo đức giữa một người nhận thấy lợi ích cá nhân trong việc sản xuất và một người nhìn thấy nó trong hành vi cướp bóc. Tội ác của một tên cướp không nằm ở việc hắn ta theo đuổi quyền lợi cá nhân mà ở thứ được hắn xem là lợi ích của chính mình; không nằm ở việc hắn theo đuổi các giá trị của mình, mà nằm ở thứ hắn chọn làm giá trị; không nằm ở việc hắn muốn sống, mà ở thực tế rằng hắn muốn sống theo mức không xứng con người (đọc thêm bài viết “Đạo đức học Khách quan luận” trong quyển này).

Nếu ý nghĩa tôi muốn hướng đến khi dùng cụm từ “vị kỷ” không phải đúng thật là nghĩa được hiểu theo lệ thường, thì đây là một trong những sự cáo buộc tệ hại nhất của chủ nghĩa vị tha: điều này có nghĩa là chủ nghĩa vị tha không thừa nhận bất cứ khái niệm nào về một người tự trọng, tự cường – một người nuôi nấng sự sống bằng chính nỗ lực của mình mà không hy sinh bản thân mình hay hy sinh ai khác. Điều này có nghĩa là chủ nghĩa vị tha không thừa nhận bất cứ quan điểm nào về con người ngoại trừ họ là vật hiến tế và là kẻ-trục-lợi-từ-sự-hy-sinh, là nạn nhân và loài kí sinh – có nghĩa là nó không thừa nhận khái niệm về chung sống hoà bình giữa người với người – có nghĩa là nó không thừa nhận khái niệm công bằng.

Nếu bạn thắc mắc về những nguyên nhân đằng sau sự hỗn tạp đáng sợ giữa hoài nghi và tội lỗi mà đa số mọi người mang theo suốt đời thì đây là câu trả lời: hoài nghi, bởi vì họ không thực hành cũng không chấp nhận đạo lí của một người theo chủ nghĩa vị tha; tội lỗi, bởi vì họ không dám bác bỏ đạo lí đó.

Để phản kháng lại cái ác mang tính tàn phá như vậy, ta phải chống lại tiền đề cơ bản của cái ác đó. Để cứu chuộc cho cả loài người và đạo đức, chính khái niệm “vị kỷ” là điều mà bản thân cần cứu chuộc.

Bước đầu tiên là khẳng định quyền của một người đối với sự hiện hữu đạo đức – tức là: nhận ra nhu cầu của mình về một quy chuẩn đạo đức nhằm dẫn đường và hướng đến hoàn chỉnh cuộc đời của chính mình.

Để có bản phác thảo tóm tắt về bản chất và sự phê chuẩn một đạo lý dựa trên lý trí, xin mời đọc bài luận của tôi về chủ đề: “Đạo đức học Khách quan luận”, được trình bày trong chương sau. Những nguyên nhân vì sao con người cần một quy chuẩn đạo đức sẽ cho bạn biết rằng mục đích của đạo đức là để xác định giá trị cũng như lợi ích đúng đắn của con người, rằng quan tâm tới những lợi ích cá nhân của bản thân chính là bản chất của sự hiện hữu về đạo đức, và rằng con người phải chính là người thụ hưởng đối với những hành động đạo đức của bản thân.

Vì tất cả các giá trị phải đạt đến và/ hoặc giữ gìn bằng hành động của con người, nên bất kì sự chia tách nào giữa người hành động và người thụ hưởng đều cần một sự bất công: hy sinh của vài người cho người khác, của người hành động cho kẻ không hành động, của người có đạo đức cho kẻ vô đạo đức. Không điều gì có thể biện bạch cho một chia tách như thế, và chưa từng có ai làm vậy.

Việc chọn lựa về người thụ hưởng các giá trị đạo đức đơn thuần là vấn đề mang tính mào đầu hoặc dẫn nhập trong lĩnh vực đạo đức. Đó không phải là sự thay thế cho đạo đức cũng không phải là tiêu chuẩn cho giá trị đạo đức, như cách chủ nghĩa vị tha đã dựng lên. Đó cũng chẳng phải là điều chính yếu của đạo đức: nó cần phải được dẫn xuất và kiểm nhận bằng những tiền đề cốt yếu của một hệ thống đạo đức.

Đạo đức học Khách quan luận nắm giữ quan điểm rằng người hành động phải luôn là người thụ hưởng đối với hành động của chính mình, và rằng con người phải hành động vì lợi ích cá nhân dựa trên lý trí của chính mình. Nhưng quyền làm vậy xuất phát từ bản chất của ta với tư cách là con người và từ chức năng của các giá trị đạo đức trong đời người – và, do đó, chỉ áp dụng được trong ngữ cảnh của một quy chuẩn về các nguyên tắc đạo đức mang tính lý trí, được chứng minh và xác thực một cách khách quan, vốn là thứ vạch rõ và xác định lợi ích cá nhân thực sự của ta. Đó không phải là một chứng nhận “muốn làm gì thì làm” và nó không áp dụng cho hình ảnh về một tên súc vật “vị kỷ” của những người theo chủ nghĩa vị tha hay cho bất kì ai được khích lệ bởi những cảm xúc, cảm giác, thôi thúc, ao ước cũng như sự tùy hứng vô lí.

Điều này được tuyên bố với tư cách là lời cảnh báo đối với những ai theo phong cách “kẻ vị kỷ trường phái Nietzsche”, vốn thực sự là sản phẩm của giá trị đạo đức theo chủ nghĩa vị tha, và đại diện cho mặt kia của chủ nghĩa vị tha: những người tin rằng bất cứ hành động nào, bất chấp bản chất của nó ra sao, đều là tốt nếu nó hướng tới lợi ích cho cá nhân người đó. Việc thoả mãn những khát khao phi lý của người khác không phải là tiêu chuẩn của giá trị đạo đức, cũng vậy, việc thoả mãn các khao khát phi lý của bản thân cũng không phải. Đạo đức không phải là một cuộc tranh tài của những ý thích bất chợt. (Mời đọc các bài luận của ông Branden “Giả danh Chủ nghĩa Cá nhân” và “Chẳng phải ai cũng vị kỷ sao?” trong các phần sau).

Một kiểu sai lầm tương tự mắc phải bởi người tuyên bố rằng vì con người phải được dẫn dắt bởi chính phán xét độc lập của bản thân, nên bất kì hành động nào ta chọn làm đều có đạo đức nếu như ta chọn nó. Phán xét độc lập của chính cá nhân là phương tiện mà một người phải lấy làm căn cứ cho lựa chọn hành động của mình, nhưng nó không phải là tiêu chuẩn đạo đức cũng không phải là sự phê chuẩn mang tính đạo đức: chỉ khi tham chiếu đến một nguyên tắc chứng minh được thì mới có thể xác thực những chọn lựa của một người.

Con người không thể tồn tại nhờ những phương tiện ngẫu nhiên, mà phải khám phá và thực hành những nguyên tắc cần có cho sự tồn tại của mình, cũng vậy, lợi ích cá nhân của con người cũng không thể được định đoạt bởi những ham muốn mù quáng hay ý thích bất chợt tuỳ tiện, mà phải được khám phá và đạt được nhờ sự dẫn dắt của những nguyên tắc dựa trên lý trí. Đây chính là lí do tại sao đạo đức học Khách quan luận là đạo đức của sự tư lợi dựa trên lý trí– hay của sự vị kỷ dựa trên lý trí.

Vì vị kỷ là “quan tâm đến lợi ích của chính cá nhân”, đạo đức học Khách quan luận sử dụng khái niệm này theo nghĩa chính xác và thuần tuý nhất của nó. Đó không phải một khái niệm cho rằng con người có thể đầu hàng kẻ thù của mình, cũng không đầu hàng những khái niệm sai lầm thiếu suy nghĩ, những xuyên tạc bóp méo, những định kiến và nỗi sợ hãi của những kẻ ngu dốt và phi lý trí. Tấn công “vị kỷ” là tấn công vào lòng tự tôn của con người; đầu hàng một bên có nghĩa là đầu hàng cả bên còn lại.

Bây giờ tôi xin phép nói vài lời về tư liệu cho cuốn sách này. Ngoại trừ bài giảng về đạo đức, đây là một tập hợp những bài tiểu luận đã xuất hiện trên tờ Bản Tin Nhà Khách quan luận (The Objectivist Newsletter), một nguyệt san tập hợp các quan điểm, do Nathaniel Branden cũng như cả tôi biên tập và xuất bản. Tờ Bản Tin này phụ trách việc ứng dụng triết lý của chủ nghĩa Khách quan trong những vấn đề và những khó khăn của nền văn hoá đương đại – cụ thể hơn là, phụ trách vai trò trung gian trong mối quan tâm của giới trí thức, mối quan tâm nằm giữa những quan điểm trừu tượng triết học và những hình ảnh cụ thể mang tính báo chí của sự hiện hữu thường nhật. Mục đích của nó là cung cấp cho độc giả một khung tham khảo mang tính triết học nhất quán.

Tập hợp này không phải là một cuộc thảo luận có hệ thống về đạo đức, mà là một loạt những bài luận về các chủ đề mang tính đạo đức cần sự sáng tỏ, trong ngữ cảnh ngày nay, hay những chủ đề mang tính đạo đức thường gây hoang mang nhất do ảnh hưởng của chủ nghĩa vị tha. Bạn có thể thấy một số tựa đề của bài luận có hình thức câu hỏi. Những bài này lấy từ “Phòng Sự Kiện Trí Thức” chuyên giải đáp các thắc mắc mà độc giả gửi đến cho chúng tôi.

AYN RAND

New York, tháng Chín 1964.

Tái Bút: Nathaniel Branden không còn có liên hệ gì với tôi, với triết lý của tôi cũng như Tờ Nhà Khách Quan LuậnThe Objectivist (tiền thân là tờ Bản Tin Nhà Khách Quan Luận The Objectivist Newsletter).

A.R.

New York, tháng Mười Một 1970.


[1] Package-deal: thuật ngữ Rand dùng để chỉ hiện tượng gộp những điều khác nhau (đôi khi trái ngược nhau) vào cùng một khái niệm.

[2] Rand dùng thuật ngữ “vị tha” này trong tất cả các bài viết của mình để nói đến việc yêu cầu một bổn phận hy sinh bản thân mình cho người khác một cách phi lý trí. “Vị tha” khác với “nhân từ”/ “yêu thương con người”, cần phân biệt rõ hai khía cạnh khái niệm này để hiểu đúng bản chất khái niệm Rand sử dụng.

[3] Thuật ngữ “hy sinh” trong toàn bộ ấn bản này được Rand sử dụng với nghĩa “từ bỏ một giá trị cao hơn để đổi lấy giá trị thấp hơn hoặc không có giá trị gì”, khác với cách hiểu phổ biến rằng “hy sinh là điều tốt đẹp”. Chẳng hạn, một người vợ quyết định dành thời gian của mình cho con cái và tạm hoãn ưu tiên sự nghiệp, bởi vì với cô con cái có giá trị lớn hơn sự nghiệp, đó không phải là hy sinh.


<<Trở lại mục lục>>

Bình luận về bài viết này