Lập luận từ sự Đe dọa

VOS | AYN RAND (1964)


Có một loại lập luận nào đó, thực ra, không phải là lập luận, mà là một phương tiện để chặn đầu tranh luận và cưỡng ép sự đồng thuận của đối phương với những quan điểm không-được-thảo-luận của bất kỳ ai. Đó là phương thức bỏ qua logic bằng cách sử dụng sức ép tâm lý. Vì điều này đặc biệt phổ biến trong văn hóa ngày nay và sẽ phát triển hơn nữa nên trong thời gian ngắn tới đây, ta nên học cách nhận ra và đề phòng vấn đề này.

Phương thức này tương đồng nhất định với sự ngụy biện công kích cá nhân (ad hominem), xuất phát từ cùng một nguồn gốc tâm lý, nhưng khác nhau về ý nghĩa cốt lõi. Sự ngụy biện công kích cá nhân gồm việc cố bác bỏ một lập luận bằng cách luận tội tính cách của người đề xướng [lập luận]. Ví dụ: “Ứng cử viên X là kẻ vô đạo đức, do đó lập luận của anh ta sai”.

Còn phương thức sức ép tâm lý bao gồm việc đe dọa bôi nhọ tính cách của đối phương bằng lý lẽ của đối phương, thông qua đó bôi nhọ lập luận ấy mà không cần luận cứ. Ví dụ: “Chỉ những kẻ vô đạo đức mới có thể không thấy rằng lập luận của Ứng cử viên X là sai”.

Trong trường hợp đầu tiên, tính vô đạo đức của ứng cử viên X (có thực hoặc bịa đặt) được đưa ra như một bằng chứng về sự sai lầm trong lập luận của anh ta. Trong trường hợp thứ hai, người ta quả quyết những sai lầm trong lập luận của ứng cử viên X một cách tùy tiện và xem như bằng chứng về sự vô đạo đức của anh ta.

Trong khu rừng nhận thức luận ngày nay, phương thức thứ hai nêu trên, được sử dụng thường xuyên hơn bất kỳ loại lập luận phi lý trí nào khác. Điều đó nên được xem là một ngụy biện trong lý luận và có thể gọi là “Lập luận từ sự Đe dọa” (The Argument from Intimidation).

Đặc điểm cơ bản của Lập luận từ sự Đe dọa là dấy lên sự nghi ngờ về đạo đức và lập luận này dựa vào nỗi sợ hãi, cảm giác tội lỗi hoặc sự không-biết của nạn nhân. Lập luận này được sử dụng dưới dạng tối hậu thư yêu cầu nạn nhân từ bỏ một ý tưởng nào đó mà không cần thảo luận, bởi sự đe dọa rằng sẽ bị coi là không đáng giá về mặt đạo đức. Khuôn mẫu luôn là: “Chỉ những kẻ xấu xa (không trung thực, vô tâm, vô cảm, thiếu hiểu biết, v.v.) mới có thể nắm giữ một quan điểm như vậy”.

Câu chuyện Bộ quần áo mới của Hoàng Đế là ví dụ kinh điển về Lập luận từ sự Đe dọa.

Câu chuyện kể về vài kẻ bịp bợm bán cho vị Hoàng Đế một bộ quần áo không hề tồn tại, bộ quần áo đẹp và đặc biệt lạ kì đến mức khi ông mặc vào thì chỉ những kẻ vô đạo đức mới không thể nhìn thấy. Hãy xem xét các yếu tố tâm lý cần thiết để thực hiện việc này: những kẻ bịp bợm dựa vào sự nghi ngờ bản thân của Hoàng Đế; Hoàng Đế không đặt ra nghi ngờ về tính xác đáng cũng như thẩm quyền đạo đức của những kẻ bịp bợm; ông ta đầu hàng ngay lập tức, ông ta tuyên bố mình nhìn thấy bộ quần áo — do đó, phủ nhận bằng chứng mà chính mắt mình nhìn thấy và bác bỏ ý thức của chính bản thân — thay vì đối mặt với mối đe dọa đến sĩ diện bấp bênh của ông ta. Sự tách rời thực tại của Hoàng Đế được thể hiện qua sự kiện ông ta chọn đi bộ trần truồng trên đường phố, trưng bày bộ quần áo không hề tồn tại của mình cho mọi người thấy — hơn là rủi ro bị hai tên vô lại lên án đạo đức. Người dân, bị thúc đẩy bởi cùng một tâm lý hoảng sợ, cố gắng thể hiện sự vượt trội bằng việc khen ngợi sự lộng lẫy của bộ quần áo — cho đến khi một đứa trẻ khóc ré kêu lên rằng Hoàng Đế đang khỏa thân.

Đây là khuôn mẫu chính xác về hoạt động của Lập luận từ sự Đe dọa, như cách lập luận này đang được thực hiện quanh ta ngày nay.

Tất cả chúng ta đã từng nghe thấy và liên tục nghe thấy lập luận kiểu như:

“Chỉ những người thiếu bản năng về sự tốt đẹp mới có thể không chấp nhận đạo đức vị tha.”.  — “Chỉ những người ngu dốt mới có thể không biết lý lẽ đó vốn không có giá trị.”. — “Chỉ những kẻ phản động, có tâm hồn đen tối mới có thể ủng hộ chủ-nghĩa-tư-bản.”. — “Chỉ những kẻ gây ra chiến tranh mới có thể phản đối Liên Hợp Quốc.”. — “Chỉ có thành phần quá khích lập dị mới có thể vẫn tin vào tự do.”. — “Chỉ những kẻ hèn nhát mới không thể thấy rằng cuộc sống là một cái cống.”. — “Chỉ những người hời hợt mới tìm kiếm vẻ đẹp, hạnh phúc, thành tựu, giá trị hoặc những người hùng.”.

Tôi nói đến nghệ thuật hiện đại[1], một ví dụ mà toàn bộ phạm vi hoạt động dựa trên không gì khác ngoài Lập luận từ sự Đe dọa — trong đó, để chứng minh bản thân mình thực sự sở hữu cái nhìn sâu sắc đặc biệt vốn chỉ có ở “giới thượng lưu” bí ẩn, công chúng cố gắng hơn thua nhau bằng những câu cảm thán đầy hoa mỹ về sự tuyệt vời của một số mảng rỗng (nhưng bị ố nhơ) trên bức vẽ.

Lập luận từ sự Đe dọa thống trị các cuộc thảo luận ngày nay ở hai dạng thức. Trong các bài phát biểu trước công chúng và sách báo, lập luận kiểu này phát triển mạnh mẽ dưới dạng các cấu trúc dài, rắc rối, phức tạp của các thông điệp khó hiểu, không truyền tải được gì rõ ràng ngoại trừ sự đe dọa về mặt đạo đức. (“Chỉ những người có tư duy bò sát mới có thể không nhận ra rằng sự rành mạch là sự đơn giản hóa quá mức”.) Tuy nhiên, trong những trải nghiệm cá nhân thường nhật, Lập luận từ sự Đe dọa được thể hiện không lời, ẩn ý thâm sâu, ở dạng thức những âm thanh không rõ ràng, truyền tải những những hàm ý không được nhắc đến. Không phải dựa trên những gì được nói, mà lập luận này dựa trên cách người ta nói — không phải về nội dung, mà là về giọng điệu.

Giọng điệu thường là thái độ khinh bỉ hoặc hiếu chiến. “Chắc chắn anh không phải là người ủng hộ chủ-nghĩa-tư-bản chứ hả?”. Nếu điều này không khiến người sắp trở thành nạn nhân sợ hãi và trả lời: “Tôi có ủng hộ” — thì cuộc đối thoại tiếp theo diễn ra như thế này: “Ồ, không thể nào! Không thế chứ!”; “Thật đấy”. “Nhưng mọi người đều biết rằng chủ-nghĩa-tư-bản đã lỗi thời!”. “Tôi không biết”. “Ồ, thôi nào!”. “Vì tôi không biết, anh có thể vui lòng cho tôi biết lý do vì sao anh nghĩ rằng chủ-nghĩa-tư-bản đã lỗi thời không?”. “Ồ, đừng lố lăng như vậy”. “Vậy, anh có thể cho tôi biết lý do không?”. “Chà, thực sự, nếu anh không biết, tôi không thể nói với anh!”.

Tất cả điều này được đi kèm với một cái nhướng mày, trợn mắt, nhún vai, lẩm bẩm, chế nhạo và toàn bộ kho tín hiệu phi ngôn ngữ này truyền đạt sự ám chỉ đáng ngại và những xung động cảm xúc của một điều duy nhất: sự không chấp thuận.

Nếu những xung động đó thất bại, nếu những người tranh luận như vậy bị thách thức, ta thấy rằng họ không có lý lẽ, không có bằng chứng, không có căn cứ, không có cơ sở để dựa vào — và sự hung hăng ồn ào của họ chỉ phục vụ che giấu một sự rỗng tuếch — rằng Lập luận từ sự Đe dọa là lời thú nhận của sự bất lực về trí tuệ.

Các nguyên mẫu ban đầu của kiểu Lập luận này rất dễ nhận biết (và đó là lý do kiểu Lập luận này hấp dẫn những nhà tân-huyền-học trong thời đại chúng ta): “Đối với những người hiểu biết, không cần thiết giải thích gì cả; Đối với những người không hiểu biết có giải thích gì đi nữa cũng bằng không”.

Nguồn gốc tâm lý của Lập luận này là siêu hình học xã hội[2].

Nhà siêu hình học xã hội là kẻ coi ý thức của những người khác vượt trội hơn so với ý thức của chính mình và so với sự thật trong thực tại. Đối với một nhà siêu hình học xã hội, việc đạo đức của bản thân anh ta được người khác thẩm định là mối quan tâm hàng đầu, thay thế cho lẽ phải, sự thật, lý trí, và logic. Đối với anh ta, sự không tán thành của người khác rất đáng sợ, đến nỗi trong ý thức của nhà siêu hình học xã hội không gì có thể chịu được tác động đến từ sự không tán thành kia. Do đó, bản thân anh ta sẽ phủ nhận bằng chứng mà đôi mắt nhìn thấy và vô hiệu hóa ý thức của chính mình vì sự phê chuẩn đạo đức của bất kỳ kẻ bịp bợm qua đường nào đấy. Chỉ có nhà siêu hình học xã hội mới có thể hình dung ra sự vô lý như vậy với hy vọng giành chiến thắng trong một cuộc tranh luận trí tuệ, bằng cách nói bóng gió: “Nhưng người ta sẽ không thích bạn!”.

Nói một cách chính xác, nhà siêu hình học xã hội không diễn đạt Lập luận của mình bằng những từ ngữ có ý thức: họ tìm ra điều đó bằng cách xem xét nội tâm theo “bản năng” — vì lập luận kia đại diện cho lối sống thuộc về nhận-thức-luận-tâm-lý (psycho-epistemological) của bản thân họ. Chúng ta đều đã gặp kiểu người rất đáng điên tiết, họ không lắng nghe những gì một ai đó nói, mà nghe theo những xung động cảm xúc trong giọng nói của đối phương, lo lắng chuyển chúng thành sự tán thành hoặc không tán thành, rồi hồi đáp tương ứng. Đây là một kiểu Lập luận từ sự Đe dọa tự áp đặt, vốn dĩ chi phối nhà siêu hình học xã hội trong hầu hết các cuộc chạm trán với người khác. Và do đó, khi họ gặp đối thủ, khi tiền đề của bản thân bị thách thức, họ tự động dùng đến vũ khí khiến bản thân khiếp sợ nhất: từ chối sự phê chuẩn đạo đức.

Những người khỏe mạnh về tâm lý không biết đến những nỗi sợ này, nên họ có thể bị kiểu Lập luận từ sự Đe dọa lừa dối, nguyên nhân chính xác là vì sự ngây thơ của họ. Do không thể hiểu động cơ của kiểu Lập luận này hoặc không thể tin rằng đó chỉ là một trò-lừa-bịp-vô-nghĩa (senseless bluff[3]), họ cho rằng người dùng kiểu Lập luận như vậy có phần nào kiến ​​thức hoặc lý lẽ để có vẻ ủng hộ cho các khẳng định tham chiến, tự tin của bản thân. Họ chọn tin tưởng người dùng kiểu Lập luận này hơn là không tin tưởng — và họ bị bỏ lại trong sự hoang mang vô vọng. Do đó, các nhà siêu hình học xã hội này có thể biến những người trẻ tuổi, người ngây thơ, người tận tâm trở thành nạn nhân.

Điều này đặc biệt phổ biến tại giảng đường. Nhiều giáo sư sử dụng Lập luận từ sự Đe dọa để kìm hãm suy nghĩ độc lập của các sinh viên, để trốn tránh những câu hỏi mà bản thân không thể trả lời, không khuyến khích bất kỳ phân tích phản biện nào về các giả định độc đoán của họ hoặc không khuyến khích bất kỳ sự thay đổi nào so với hiện trạng nguyên mẫu.

“Aristotle hả? Bạn thân yêu của tôi ơi —” (một tiếng thở dài mệt mỏi), “nếu bạn đã đọc tác phẩm của Giáo sư Spiffkin —” ([thái độ] cung kính) “trên tạp chí Tri thức số tháng 1 năm 1912, mà —” ([thái độ] khinh bỉ) “bạn rõ ràng chưa đọc, bạn sẽ biết —” ([thái độ] thiếu nghiêm túc) “Aristotle đã bị bác bỏ”.

“Giáo sư X?” (X là tên của một nhà lý luận nổi tiếng về kinh tế doanh nghiệp tự do.) “Bạn đang trích dẫn Giáo sư X đấy à? Không, không vậy chứ!” — theo sau là một tiếng cười mỉa mai nhằm truyền đạt rằng Giáo sư X đã bị mất uy tín triệt để. (Bởi ai? Ngây ra.)

Những giáo viên như vậy thường xuyên được hỗ trợ bởi nhóm người ngu ngốc “tự do” trong lớp học, những kẻ thường bật cười vào những thời điểm thích hợp.

Trong đời sống chính trị của chúng ta, Lập luận từ Đe dọa gần như là phương thức thảo luận duy nhất. Hầu như, các cuộc tranh luận chính trị ngày nay bao gồm bôi nhọ và xin lỗi, hoặc đe dọa và xoa dịu. “Bôi nhọ và xin lỗi” thường (mặc dù không phải là dành riêng) được thực hiện bởi phe “tự do”, còn “đe dọa và xoa dịu” thực hiện bởi phe “bảo thủ”. Nhà vô địch về phương diện này là những người Cộng hòa “tự do” vốn thực hành cả hai: “bôi nhọ và xin lỗi” đối với phe Cộng hòa “bảo thủ” của họ — “đe dọa và xoa dịu” đối với phía đảng Dân chủ.

Tất cả sự bôi nhọ đều là Lập luận từ sự Đe dọa: chúng bao gồm những quả quyết đầy xúc phạm mà không có bất kỳ bằng chứng hay chứng cứ nào, được đưa ra như một sự thay thế cho bằng chứng hoặc chứng cứ, nhằm vào sự hèn nhát của đạo đức hoặc sự cả tin không suy nghĩ của người nghe.

Lập luận từ sự Đe dọa không mới, được sử dụng ở mọi lứa tuổi và mọi nền văn hóa, nhưng hiếm khi có quy mô rộng như ngày nay. Kiểu lập luận này được sử dụng một cách thô lỗ trong chính trị hơn là trong các lĩnh vực hoạt động khác, nhưng không bị giới hạn trong chính trị, mà lan tỏa khắp nền văn hóa của chúng ta. Đó là một dấu hiệu của sự đổ vỡ về văn hóa.

Làm thế nào để con người chống lại Lập luận đó? Chỉ có một vũ khí duy nhất chống lại điều đó: sự đoan chắn về đạo đức.

Khi tham gia bất kỳ trận chiến trí tuệ nào, dù lớn hay nhỏ, công khai hay riêng tư, ta không thể tìm kiếm, mong muốn hay trông đợi sự phê chuẩn của kẻ thù. Sự thật hay sự giả dối phải là mối quan tâm duy nhất và là tiêu chí phán xét duy nhất — không phải sự tán thành hay phản đối của bất kỳ ai; và trên hết, không phải là sự tán thành của những người có tiêu chuẩn trái ngược với bản thân ta.

Tôi xin nhấn mạnh rằng Lập luận từ sự Đe dọa không bao gồm việc mở đầu phán xét đạo đức đối với các vấn đề trí tuệ, mà gồm việc thay thế phán xét đạo đức đối với lập luận trí tuệ. Đánh giá đạo đức hàm ẩn trong hầu hết các vấn đề trí tuệ. Đó không chỉ đơn thuần là được cho phép, mà là bắt buộc phải vượt qua phán xét đạo đức tại thời điểm và nơi chốn thích hợp; ngăn chặn sự phán xét như vậy là một hành động hèn nhát về mặt đạo đức. Nhưng sự phán xét đạo đức phải luôn luôn theo sát, không phải đi trước (hoặc thế chỗ), những lý lẽ mà nó dựa vào.

Khi ta đưa ra lý lẽ cho những nhận định của mình, ta đảm đương trách nhiệm về các lý lẽ này và sẵn sàng nhận phán xét khách quan: nếu lý lẽ của ta sai hoặc dối trá, ta phải chịu hậu quả. Nhưng lên án mà không đưa ra lý lẽ là một hành động vô trách nhiệm, một kiểu “gây tai nạn rồi bỏ chạy” về mặt đạo đức, vốn là bản chất của Lập luận từ sự Đe dọa.

Quan sát cho thấy những người sử dụng Lập luận từ sự Đe dọa là những người sợ một cuộc tấn công đạo đức dựa trên lý trí hơn bất kỳ kiểu trận chiến nào khác — và khi họ gặp phải một địch thủ tự tin về mặt đạo đức, họ sẽ phản đối mạnh mẽ rằng “luận bàn đạo đức” phải tránh xa các cuộc bàn luận về trí tuệ. Nhưng bàn luận về cái ác theo cách hàm ý trung lập, là, sự phê chuẩn tội ác.

Lập luận từ sự Đe dọa đã minh họa lý do vì sao điều quan trọng là phải chắc chắn về cơ sở lý luận (tiền đề) và về nền tảng đạo đức của bản thân. Kiểu Lập luận đó minh họa loại cạm bẫy trí tuệ đang chờ đợi những người mạo hiểm mà không có niềm tin đầy đủ, rõ ràng, nhất quán, hoàn toàn hòa hợp với các nguyên tắc cơ bản — những người liều lĩnh nhảy vào trận chiến, không có gì ngoài vài khái niệm ngẫu nhiên trôi trong màn sương mù của những điều chưa biết, không xác định, không nhận dạng, không được chứng minh và được hỗ trợ bởi không có gì ngoài cảm xúc, hy vọng và sợ hãi. Lập luận từ Đe dọa là khắc tinh của họ. Trong các vấn đề về trí tuệ và đạo đức, chỉ “đúng” là không đủ: ta phải biết rằng ta đúng.

Ví dụ lừng lẫy nhất về câu trả lời thích đáng cho Lập luận từ sự Đe dọa đã được đưa ra trong lịch sử Hoa Kỳ bởi một người, người từ chối các tiêu chuẩn đạo đức của kẻ thù và hoàn toàn chắc chắn về sự chính trực của mình:

“Nếu đây là tội phản quốc, hãy tận dụng tối đa” (If this be treason, make the most of it).

(Tháng Bảy năm 1964)


[1] Đọc thêm bài viết “Nghệ thuật và Nhận thức” (Art and Cognition) trong quyển Tuyên ngôn Lãng mạn (Romantic Manifesto) của Ayn Rand.

[2] [VOS] Tham khảo Nathaniel Branden, “Social Metaphysics,” The Objectivist Newsletter, Tháng 11. 1962.

[3] Rand sử dụng thuật ngữ này để chỉ chiến thuật dựa vào các tuyên bố mơ hồ, khơi dậy về thẩm quyền (thay vì lý lẽ logic) nhằm thao túng những người phi lý trí hay thiếu tư duy phản biện (sự không-biết).


<<Trở lại mục lục>>

Bình luận về bài viết này