Đạo đức học Khách quan luận

VOS | AYN RAND (1961)


Vì sắp nói về chủ đề Đạo đức học Khách quan luận, nên tôi sẽ mở đầu bằng việc trích dẫn từ đại diện xuất sắc nhất – John Galt trong Atlas Shrugged:

“Qua hàng thế kỷ đầy thiên tai và thảm họa, gây ra bởi quy tắc đạo đức của chính bạn, bạn đã than khóc rằng quy tắc của mình đã bị phá vỡ, rằng thiên tai là sự trừng phạt cho việc phá vỡ quy tắc, rằng con người đã quá yếu đuối và ích kỷ để đổ máu khi cần. Bạn nguyền rủa con người, nguyền rủa sự tồn tại, nguyền rủa trái đất này, nhưng chưa bao giờ dám hoài nghi quy tắc của chính mình… Bạn tiếp tục than khóc rằng quy tắc của mình cao quý, nhưng bản chất con người không đủ tốt để thực hành quy tắc đó. Và không ai đứng lên đặt câu hỏi: Tốt? – Trên tiêu chuẩn nào?

“Bạn muốn biết căn tính của John Galt. Tôi là người đã hỏi câu hỏi đó.

“Đúng, đây thời đại khủng hoảng đạo đức…. Quy tắc đạo đức của bạn đã đến điểm cao trào, đến hẻm cụt ở cuối con đường đạo đức. Và nếu bạn muốn tiếp tục sống, điều bạn cần bây giờ không phải là trở về với đạo đức… mà là khám phá đạo đức.[1]

Đạo đức, hay luân lý là gì? Đó là một hệ quy tắc về giá trị để hướng dẫn cho lựa chọn và hành động của con người – những lựa chọn và hành động quyết định mục đích và phương hướng của cuộc đời họ. Đạo đức, với tư cách là một môn khoa học, phụ trách việc khám phá và xác định quy tắc ấy.

Câu hỏi đầu tiên cần được giải đáp, như một điều kiện tiên quyết của bất kỳ nỗ lực nào để xác định, đánh giá hoặc chấp nhận bất cứ một hệ thống đạo đức cụ thể, đó là: Tại sao con người cần một hệ giá trị?

Để tôi nhấn mạnh điều này. Câu hỏi đầu tiên không phải là: Con người nên chấp nhận hệ giá trị cụ thể nào? Câu hỏi đầu tiên là: Con người có cần các giá trị không- và tại sao?

Liệu khái niệm về giá trị, về “tốt/thiện hoặc xấu/ác” có phải là một phát minh tình cờ của con người, không liên quan đến, không xuất phát từ và không được củng cố bởi bất kỳ sự thật nào trong thực tại; hay khái niệm đó dựa trên một sự thật siêu hình, một điều kiện không thể thay đổi về sự tồn tại của con người? (Tôi sử dụng từ “siêu hình” theo nghĩa: những gì gắn liền với hiện thực, với bản chất của sự vật/sự việc, và với sự tồn tại). Liệu có một quy ước ngẫu nhiên, một tập quán đơn thuần, quy định rằng con người phải sử dụng bộ quy tắc để dẫn dắt hành động của bản thân – hay có một sự thật thực tế nào khác đòi hỏi điều đó? Đạo đức có phải là lĩnh vực của ý thích bất chợt: của những cảm xúc cá nhân, những sắc lệnh xã hội và những mặc khải thần bí – hay nó là lĩnh vực của lý trí? Đạo đức là một xa xỉ phẩm chủ quan hay một nhu yếu phẩm khách quan?

Trong những tư liệu nghèo nàn về lịch sử đạo đức của nhân loại, với một vài ngoại lệ hiếm hoi và bất thành, các nhà luân lý học đã xem đạo đức là lĩnh vực của “ý thích bất chợt”, nghĩa là: thuộc về phi lý. Vài người trong số họ đã quan niệm rất rõ ràng bởi sự chủ đích, những người còn lại ngấm ngầm qua sự mặc nhiên. Một “ý thích bất chợt” là một mong muốn được trải nghiệm của một người không biết và không quan tâm đến việc khám phá nguyên nhân của mong muốn đó.

Không một nhà triết học nào đã đưa ra câu trả lời khoa học, có thể chứng minh một cách khách quan và dựa trên lý trí đối với câu hỏi tại sao con người cần hệ quy tắc giá trị. Chừng nào câu hỏi ấy vẫn còn bỏ ngỏ, sẽ không có bộ quy tắc đạo đức khách quan, mang tính khoa học và dựa trên lý trí nào để xác định hay khám phá cả. Triết gia vĩ đại nhất của các triết gia, Aristotle, không coi đạo đức là một môn khoa học chính xác; ông xây dựng hệ thống luân lý của mình dựa trên việc quan sát những lựa chọn mà những người thông thái và cao quý ở thời đại của ông thường làm, bỏ lại những câu hỏi không lời giải đáp: tại sao họ chọn làm việc đó và tại sao ông lại đánh giá họ là những người cao quý và thông thái.

Hầu hết các triết gia coi sự tồn tại của đạo đức là điều hiển nhiên, một thứ có sẵn, một sự thật lịch sử mà không quan tâm đến việc tìm hiểu nguyên nhân siêu hình hay sự xác tín khách quan của nó. Nhiều người trong số họ đã nỗ lực phá vỡ thế độc tôn truyền thống của chủ nghĩa thần bí trong lĩnh vực đạo đức và, được cho là, đã nỗ lực để xác định một đạo đức dựa trên lý trí, mang tính khoa học và phi tôn giáo. Song, những nỗ lực của họ bao gồm cả việc cố gắng biện minh cho mình về phương diện xã hội, chỉ đơn thuần là dùng xã hội thay thế Đấng tối cao.

Các nhà huyền học đã được công khai thừa nhận, coi “ý Trời” – ngẫu nhiên và vô lý – là chuẩn mực của điều tốt và là sự xác tín cho luân lý của họ. Các nhà-tân-huyền-học thay thế nó bằng “điều tốt của xã hội”, do vậy, họ rơi vào vòng luẩn quẩn của định nghĩa “chuẩn mực của điều tốt là những thứ tốt cho xã hội”. Điều đó có nghĩa là, theo logic – và ngày nay, dựa vào thực tế trên toàn cầu – “xã hội” đứng trên bất cứ nguyên tắc đạo đức nào, bởi vì là cội nguồn, là chuẩn mực và là tiêu chí của đạo đức, bởi vì “điều tốt” là bất cứ điều gì muốn, bất cứ điều gì tình cờ xác nhận là sự thịnh vượng và niềm vui sướng của chính nó. Điều đó có nghĩa là “xã hội” có thể làm bất cứ điều gì nó thích, bởi “điều tốt” là bất cứ thứ gì nó chọn làm nó chọn làm thế. Và – vì không có thực thể nào như “xã hội”, vì xã hội chỉ là tập hợp một lượng cá nhân – điều này nghĩa là một số người (đa số hoặc bất cứ nhóm nào tự xưng là phát ngôn viên của xã hội), theo luân thường đạo lý, có quyền theo đuổi bất cứ ý thích bất chợt (hay bất cứ sự tàn bạo nào) mà họ muốn theo đuổi, trong khi những người khác, về mặt đạo lý, có nghĩa vụ phải dành cả cuộc đời để phục vụ cho ham muốn của nhóm người đó.

Điều này khó có thể được coi là hợp lý, nhưng hầu hết các triết gia hiện nay đã quyết định tuyên bố rằng lý trí đã thất bại, rằng đạo đức nằm ngoài quyền năng của lý trí, rằng không có đạo đức dựa trên lý trí nào có thể từng được xác định, và trong lĩnh vực đạo đức – trong việc lựa chọn các giá trị, lựa chọn hành động, lựa chọn việc mưu cầu, lựa chọn mục tiêu sống – con người phải được dẫn dắt bởi một cái gì đó hơn là lý trí. Bởi cái gì? Đức tin – bản năng – trực giác – mặc khải – cảm giác – thị hiếu – thôi thúc – ao ước – ý thích bất chợt. Ngày nay, cũng như trong quá khứ, hầu hết các triết gia đều đồng tình rằng tiêu chuẩn tối hậu của đạo đức là ý thích bất chợt (họ gọi nó là “định đề ngẫu nhiên” hay “lựa chọn chủ quan” hay “gắn kết cảm xúc” – và cuộc tranh cãi chỉ xoay quanh vấn đề ấy hay ý thích bất chợt của ai: của bản thân con người, của xã hội, của nhà độc tài hay của Đấng tối cao. Dù họ có thể bất đồng về bất kỳ điều gì khác, những nhà đạo đức học ngày nay đều đồng thuận rằng đạo đức là một vấn đề chủ quan và rằng ba điều cấm kỵ trong địa hạt của nó là: lý trí (reason) – trí tuệ (mind) – thực tại (reality). 

Nếu bạn thắc mắc tại sao thế giới ngày nay lại đổ sụp về phía tăm tối ở một mức độ tệ hơn và chưa từng tệ hơn, thì đây là chính là câu trả lời.

Nếu bạn muốn cứu nền văn minh, bạn phải thách thức chính tiền đề này của đạo đức đương đại, và – của toàn bộ lịch sử về đạo đức.

Để thách thức tiền đề cơ bản của bất cứ phạm trù nào, ta phải bắt đầu từ điều căn bản nhất. Trong lĩnh vực đạo đức, ta phải bắt đầu bằng việc đặt câu hỏi: Giá trị là gì? Tại sao con người cần giá trị?

“Giá trị” là điều mà ta hành động để đạt đến và/hoặc giữ gìn. Khái niệm “giá trị” không phải là khái niệm căn nguyên; nó giả định câu trả lời cho câu hỏi: giá trị đối với ai và vì điều gì? Nó giả định một thực thể có khả năng hành động để đạt được mục tiêu khi đối mặt với một lựa chọn thay thế. Nơi không lựa chọn nào tồn tại thì cũng không có mục tiêu và giá trị nào khả dĩ. 

Tôi trích dẫn phát biểu của Galt: “Duy chỉ có một sự luân phiên cơ bản trong vũ trụ: tồn tại hoặc không tồn tại – và nó gắn liền với một lớp thực thể duy nhất: những sinh vật sống. Sự tồn tại của vật chất vô tri vô giác không có điều kiện nào cả, nhưng sự tồn tại của sự sống thì có: nó phụ thuộc vào một quá trình hành động cụ thể. Vật chất thì không thể bị tiêu tan, nó biến đổi dạng thức song không thể ngừng tồn tại. Chỉ có chính sinh vật sống mới phải đối mặt với sự lựa chọn bất biến: vấn đề sống hoặc chết. Sống là một quá trình hành động tự duy trì và tự kiến tạo. Nếu một sinh vật sống thất bại trong quá trình ấy, nó chết; các yếu tố hóa học của nó vẫn còn nhưng sự sống của nó không tồn tại nữa. Duy chỉ có chính khái niệm “Sự sống” mới khiến khái niệm “Giá trị” trở nên khả dĩ. Duy chỉ với chính thực thể sống mới khiến sự vật/sự việc có thể là tốt hoặc xấu.  

Để làm rõ hoàn toàn điểm này, hãy tưởng tượng một robot bất tử, không thể phá hủy, một thực thể di chuyển và hành động, nhưng không thể bị ảnh hưởng bởi bất cứ điều gì, không thể bị thay đổi ở bất cứ khía cạnh nào, không thể bị hỏng hóc, bị tổn thương hay bị hủy diệt. Một thực thể như vậy sẽ không thể có bất cứ giá trị nào; nó sẽ chẳng có gì để được hoặc mất; nó chẳng thể nhìn nhận bất cứ điều gì là ủng hộ hay chống lại nó, là phục vụ hay đe dọa hạnh phúc của nó, thỏa mãn hay cản trở lợi ích của nó. Nó có thể chẳng có mục tiêu hay lợi ích nào.

Chỉ một thực thể sống mới có thể có mục tiêu hay tạo ra mục tiêu. Và chỉ chính sinh vật sống mới có năng lực đối với hành động tự-kiến-tạo và hướng-mục-tiêu. Ở cấp độ vật lý, chức năng của tất cả các sinh vật sống, từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất – từ chức năng dinh dưỡng trong tế bào đơn của một sinh vật đơn bào cho đến hệ tuần hoàn máu trong cơ thể người – đều là hành động do chính sinh vật sống tự tạo ra và hướng đến một mục tiêu duy nhất: duy trì sự sống của chúng[2].

Sự sống của một sinh vật phụ thuộc hai yếu tố: nguyên liệu hay nhiên liệu cần thiết từ bên ngoài, từ môi trường vật lý của nó, và hành động của chính cơ thể sinh vật, hành động sử dụng nhiên liệu đó một cách đúng đắn. Trong bối cảnh này, tiêu chuẩn nào xác định điều gì là đúng đắn?  Tiêu chuẩn ấy là sự sống của sinh vật, hay: thứ phải có cho sự sống của sinh vật ấy.

Một sinh vật không có lựa chọn nào khác trong vấn đề này: thứ phải có cho sự sống của nó được xác định bởi bản chất của nó, bởi loại thực thể mà nó . Một sinh vật có thể có nhiều biến thể, nhiều dạng thức thích nghi với môi trường, bao gồm cả khả năng tồn tại chốc lát trong tình trạng tê liệt, khuyết tật hoặc mắc bệnh, song lựa chọn cốt yếu cho sự tồn tại của của nó vẫn như cũ: nếu một sinh vật thất bại trong việc thực hiện những chức năng cơ bản do bản chất của nó quy định – ví như nếu nguyên sinh chất của một sinh vật đơn bào ngừng tiêu hóa thức ăn, nếu trái tim của một người ngừng đập, thì sinh vật đó sẽ chết. Về cơ bản, sự tĩnh lặng là phản đề của sự sống. Sự sống chỉ có thể tồn tại thông qua một quá trình hành động tự duy trì diễn ra liên tục. Mục tiêu của hành động ấy, giá trị cuối cùng phải đạt đến và duy trì trong từng khoảnh khắc, là, sự sống của sinh vật. 

Một giá trị tối hậu là mục tiêu hay mục đích cuối cùng – mà tất cả các mục tiêu nhỏ hơn đều là phương tiện cho nó – và nó đặt ra tiêu chuẩn theo đó tất cả các mục tiêu nhỏ hơn được đánh giá. Sự sống của một sinh vật là tiêu chuẩn giá trị của nó: những gì xúc tiến sự sống của sinh vật là điều tốt, ngược lại những gì đe dọa sự sống của sinh vật là điều xấu.

Không có mục tiêu hay mục đích cuối cùng thì không thể có mục tiêu hay phương tiện nhỏ hơn: một chuỗi các phương tiện diễn ra trong một tiến trình vô tận hướng tới một mục đích không tồn tại, là, điều bất khả thi về mặt siêu hình học lẫn nhận thức luận. Chính mục tiêu cuối cùng, mục đích tự thân, mới làm cho sự tồn tại của các giá trị khả dĩ. Về mặt siêu hình học, sự sống là hiện tượng duy nhất cũng là mục đích tự thân: một giá trị đạt được và duy trì thông qua một quá trình hành động liên tục. Về mặt nhận thức luận, khái niệm “giá trị” theo di truyền học phụ thuộc vào và xuất phát từ khái niệm có trước – ‘sự sống”. Nói về “giá trị” mà tách rời “sự sống” thì còn tệ hơn cả sự mâu thuẫn về mặt thuật ngữ. “Chỉ có khái niệm ‘sự sống’ mới làm cho khái niệm ‘giá trị’ khả dĩ”.

Trong câu trả lời cho những triết gia cho rằng không thể thiết lập mối quan hệ nào giữa mục đích hay giá trị tối hậu với hiện thực cuộc sống, tôi muốn nhấn mạnh một thực tế rằng các thực thể sống tồn tại và hoạt động đòi hỏi sự tồn tại của các giá trị và của giá trị tối hậu, điều mà, đối với bất cứ thực thể sống nào, cũng là sự sống của chính nó. Vì vậy, việc xác tín các phán xét giá trị sẽ đạt được thông qua việc tham chiếu đến hiện thực cuộc sống. Sự thật là, một thực thể sống là (is)  sẽ quyết định những gì nó phải (ought) làm. Vậy là đủ cho vấn đề về mối liên hệ giữa (is) và phải (ought).

Vậy, con người khám phá khái niệm “giá trị” bằng cách nào? Bằng phương tiện gì mà họ khởi đầu nhận thức vấn đề về “tốt đẹp và xấu xa” ở dạng thức đơn giản nhất? Bằng các cảm giác vật lý của niềm vui hoặc nỗi đau. Cảm giác là bước phát triển đầu tiên thuộc về ý thức của con người trong địa hạt nhận thức, cũng vậy, chúng là bước đầu tiên trong địa hạt đánh giá

Cơ thể con người bẩm sinh đã có khả năng trải nghiệm niềm vui hay nỗi đau; đó là một phần thuộc về bản chất, một phần loại thực thể con người thuộc về. Con người không hề được lựa chọn trong chuyện này, và họ không có lựa chọn về tiêu chuẩn để xác định điều gì sẽ khiến họ trải nghiệm cảm giác vật lý về niềm vui hay nỗi đau. Tiêu chuẩn đó là gì? Sự sống của họ.

Cơ chế niềm vui – nỗi đau trong cơ thể người – và trong cơ thể của tất cả các sinh vật sống sở hữu năng lực của ý thức – phục vụ như một vệ thần tất yếu cho sự sống của sinh vật. Cảm giác vật lý của niềm vui là tín hiệu cho thấy sinh vật đang theo đuổi hành động đúng đắn. Cảm giác vật lý của nỗi đau là dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm, cho thấy sinh vật đang theo đuổi hành động sai lầm, rằng điều gì đó đang làm suy yếu chức năng đúng đắn của cơ thể chúng và điều này cần phải được chỉnh sửa. Minh họa rõ nhất cho vấn đề này, có thể tìm thấy ở trường hợp hiếm hoi kỳ lạ của những đứa trẻ được sinh ra mà không có khả năng cảm nhận nỗi đau thể xác; những đứa trẻ ấy không sống được lâu, chúng không có phương tiện để khám phá những gì có thể gây hại đến chúng, không có tín hiệu cảnh báo và do đó, một vết cắt nhỏ cũng có thể chuyển biến thành nhiễm trùng chết người, hay một căn bệnh nghiêm trọng có thể không được phát hiện cho đến khi quá muộn để chống lại.

Ý thức – đối với những sinh vật sống sở hữu nó, là phương tiện tồn tại cơ bản.

Các sinh vật đơn giản hơn, chẳng hạn thực vật, có thể tồn tại bằng các chức năng vật lý tự động của chúng. Các sinh vật bậc cao hơn, chẳng hạn động vật và con người, thì không thể: nhu cầu của chúng phức tạp hơn và phạm vi hành động của chúng rộng hơn. Các chức năng vật lý trong cơ thể chúng chỉ có thể tự động thực hiện nhiệm vụ sử dụng nhiên liệu, nhưng không thể có được nhiên liệu đó. Để có được nó, các sinh vật bậc cao cần năng lực ý thức. Một cái cây có thể hút chất dinh dưỡng từ lòng đất mà nó được gieo trồng. Một con vật phải đi săn để có thức ăn. Con người phải sản xuất.

Một cái cây không có lựa chọn hành động; các mục tiêu mà nó theo đuổi là vô thức và bẩm sinh, được quy định bởi bản chất của nó. Chất dinh dưỡng, nước, ánh sáng là những giá trị mà bản chất của nó đã thiết lập để tìm kiếm. Sự sống của nó là tiêu chuẩn giá trị chỉ đạo hành động của nó. Nó sẽ gặp phải những điều kiện khác nhau trong môi trường vật lý – như nhiệt độ hoặc sương giá, hạn hán hoặc lũ lụt – và có thể thực hiện những hành động nhất định để chống lại các điều kiện bất lợi, ví dụ như một số loài thực vật có khả năng sống và bò từ phía dưới một tảng đá lên trên đón ánh sáng. Nhưng bất kể điều kiện là gì, không có lựa chọn nào trong chức năng của thực vật: nó hành động vô thức để duy trì cuộc sống, nó không thể hành động để hủy diệt chính mình.

Sự tồn tại của các sinh vật bậc cao cần phải có phạm vi hành động rộng hơn; tương xứng với phạm vi ý thức của chúng. Các loài sinh vật có ý thức bậc thấp hơn chỉ sở hữu năng lực cảm giác, đủ để điều hướng hành động và đáp ứng nhu cầu của chúng. Một cảm giác được tạo ra bởi phản ứng tự động của giác quan đối với một kích thích từ thế giới bên ngoài; nó gần như kết thúc ngay lúc đó, khi kích thích kết thúc và biến mất. Cảm giác là một phản ứng tự động, một dạng kiến thức tự sinh, điều mà một sinh vật có ý thức không thể tìm kiếm hay trốn tránh. Một sinh vật chỉ sở hữu năng lực cảm giác được dẫn dắt bởi cơ chế niềm vui – nỗi đau của cơ thể, tức là: bởi kiến thức tự sinh và hệ giá trị tự động. Sự sống của nó là tiêu chuẩn giá trị điều hướng hành động của nó. Trong phạm vi có thể hành động, nó hành động vô thức để duy trì sự sống mà không thể hành động để tự hủy diệt.

Các sinh vật bậc cao sở hữu một hình thái ý thức mạnh mẽ hơn nhiều: chúng sở hữu năng lực duy trì cảm giác, đó là năng lực tri giác. “Tri giác” là một nhóm các cảm giác được bộ não sinh vật sống tự động giữ lại và tích hợp, cho phép chúng có năng lực nhận biết, không chỉ về các kích thích đơn lẻ, mà còn về các thực thể, các sự vật/sự việc. Một con vật được dẫn dắt, không chỉ bằng cảm giác tức thời, mà còn bằng tri giác. Hành động của nó không phải là những phản ứng đơn lẻ, rời rạc đối với những kích thích riêng biệt, tách rời, mà được định hướng bởi sự nhận biết tổng hợp về thực tại tri giác đang đối mặt. Nó có thể nắm bắt được các khối tri giác trong hiện tại trước mắt và nó có thể hình thành các kết nối tri giác tự động, nhưng nó không thể đi xa hơn thế. Nó có thể học các kỹ năng nhất định để đối phó với các tình huống cụ thể, chẳng hạn như săn bắt hoặc ẩn nấp, các kỹ năng mà cha mẹ động vật bậc cao truyền dạy cho con nhỏ. Nhưng một con vật không có sự lựa chọn về kiến ​​thức và kỹ năng cần phải có; nó chỉ có thể lặp lại chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bên cạnh đó, một con vật không có lựa chọn về tiêu chuẩn giá trị định hướng hành động của nó: các giác quan cung cấp cho nó một quy tắc giá trị tự động, một kiến ​​thức tự sinh về những gì tốt hoặc xấu, những gì mang lại lợi ích hoặc gây nguy hiểm cho sự sống của nó. Một con vật không có khả năng mở rộng hay lảng tránh kiến ​​thức. Trong những tình huống kiến ​​thức của nó không đầy đủ, nó sẽ chết – ví dụ, một con vật đứng bất động trên đường ray tàu cao tốc. Nhưng miễn là nó còn sống, nó sẽ hành động theo kiến ​​thức của mình, với sự an toàn tự động và không có quyền lựa chọn: nó không thể hoãn ý thức của chính mình – nó không thể chọn không nhận biết, nó không thể lảng tránh tri giác của chính nó – nó không thể phớt lờ cái tốt của chính mình, nó không thể quyết định chọn cái xấu và hành động như kẻ hủy diệt chính bản thân mình.

Con người không có quy tắc sinh tồn tự động. Ta không có quá trình hành động tự động, không có hệ giá trị tự sinh. Các giác quan không tự động cho ta biết điều gì tốt hoặc xấu, điều gì sẽ có lợi hoặc gây hại cho sự sống của ta, ta nên theo đuổi mục tiêu gì và đạt được chúng bằng phương tiện nào, sự sống của ta dựa vào giá trị nào và các giá trị ấy đòi hỏi những hành động ra sao. Ý thức của chính bản thân ta phải khám phá câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này – nhưng ý thức của ta sẽ không tự động hoạt động. Con người, loài sinh vật sống cao cấp nhất trên trái đất này – loài sinh vật có ý thức sở hữu khả năng vô hạn để lĩnh hội tri thức – lại là thực thể sống duy nhất không hề có bất kỳ sự đảm bảo nào về việc duy trì ý thức. Sự khác biệt đặc biệt của con người với tất cả các loài sinh vật sống khác ở sự thật rằng ý thức của họthuộc về ý chí.

Các giá trị tự động điều hướng các chức năng của cơ thể thực vật là đủ cho sự sống của nó, nhưng không đủ đối với động vật – cũng vậy, các giá trị tự động do cơ chế nhận biết cảm giác-tri giác của ý thức là đủ để hướng dẫn một động vật, nhưng không đủ đối với con người. Hành động và sự sống còn của con người đòi hỏi sự hướng dẫn của các giá trị dựa trên khái niệm xuất phát từ tri thức dựa trên khái niệm. Nhưng tri thức dựa trên khái niệm không thể tự động đạt được.

Một “khái niệm” là sự tích hợp về trí tuệ của hai hay nhiều khối tri giác, được phân lập bởi quá trình trừu tượng hóa và được hợp nhất bằng một định nghĩa cụ thể. Mỗi từ trong ngôn ngữ loài người, ngoại trừ tên riêng, đều biểu thị một khái niệm, một sự trừu tượng đại diện cho số lượng vô hạn những thứ cụ thể thuộc một dạng riêng biệt nào đó. Chính bằng cách sắp xếp chất liệu thuộc về tri giác thành các khái niệm, và sắp xếp các khái niệm thành những khái niệm rộng hơn và ngày càng rộng hơn nữa, con người có thể nắm bắt và ghi nhớ, nhận biết và hợp nhất một lượng tri thức không giới hạn, một tri thức vượt xa nhận biết trước mắt của bất kỳ khoảnh khắc tức thời cho trước nào. Các giác quan của con người hoạt động tự động; bộ não con người hợp nhất dữ liệu cảm giác thành tri giác một cách tự động, song, quá trình hợp nhất tri giác thành khái niệm – quá trình trừu tượng hóa và hình thành khái niệm – không tự động.

Quá trình hình thành khái niệm không đơn thuần chỉ bao gồm việc nắm bắt vài sự trừu tượng đơn giản, ví dụ như “ghế”, “bàn”, “nóng”, “lạnh” và việc học cách để gọi tên chúng. Nó bao gồm một phương pháp sử dụng ý thức của bản thân, được định rõ nhất qua thuật ngữ “khái niệm hóa”. Nó không phải là một trạng thái thụ động của việc ghi lại những ấn tượng ngẫu nhiên. Nó là một quá trình chủ động duy trì việc xác định ấn tượng của ta bằng các thuật ngữ mang tính khái niệm, việc tích hợp mỗi sự kiện và mỗi quan sát vào trong một bối cảnh có tính khái niệm, việc nắm bắt các mối quan hệ, các điểm khác biệt, các điểm tương đồng ở dữ liệu tri giác của ta và việc trừu tượng hóa chúng thành những khái niệm mới, việc đưa ra những lập luận, việc thực hiện những diễn dịch, việc đưa ra kết luận, việc đặt những câu hỏi mới, rồi khám phá các câu trả lời khác hẳn cùng với mở mang tri thức của ta thành một tổng lượng không ngừng phát triển. Năng lực điều khiển quá trình này, năng lực hoạt động bởi phương tiện về khái niệm, chính là: lý trí. Quá trình đó chính là sự tư duy.

Lý trí là năng lực xác định và hợp nhất chất liệu do các giác quan của con người cung cấp. Nó là năng lực mà con người phải luyện tập thông qua lựa chọn. Tư duy không là một chức năng tự động. Tại bất cứ khoảnh khắc hay vấn đề nào trong đời , ta đều được tự do tư duy hoặc né tránh nỗ lực ấy. Tư duy đòi hỏi một trạng thái nhận thức chuyên-chú-chủ-định (focus),[3] ở mức độ cao nhất. Hành động chuyên-chú-chủ-định vào ý thức của bản thân là hành động thuộc về ý chí. Con người có thể để tâm trí chuyên-chú-chủ-định vào một nhận thức về thực tại toàn vẹn, chủ động và được điều hướng có mục đích – hoặc con người có thể trở nên vô định và thả trôi chính mình trong trạng thái mơ màng bán-ý-thức, chỉ đơn thuần phản ứng với bất kỳ kích thích ngẫu nhiên tại khoảnh khắc tức thời, phó mặc cho cơ chế cảm giác – tri giác vô định và phó mặc cho bất cứ kết nối liên đới, ngẫu nhiên mà nó có thể tình cờ tạo ra. 

Khi tâm trí vô định, ta có thể được cho là có ý thức theo nghĩa không được áp dụng cho con người của từ này, bởi lẽ ta vẫn trải nghiệm cảm giác và tri giác. Tuy nhiên, theo nghĩa được áp dụng cho con người – rằng ý thức là nhận thức thực tại và có khả năng đối mặt với thực tại, cái ý thức có thể định hướng hành động và hỗ trợ sự sống còn của con người – một tâm trí vô định thì không có ý thức.

Về mặt tâm lý, lựa chọn “tư duy hoặc không” là lựa chọn “chuyên-chú-chủ-định hoặc không”. Về mặt tồn tại, lựa chọn “chuyên-chú-chủ-định hoặc không” là lựa chọn “có ý thức hoặc không”. Về mặt siêu hình học, lựa chọn “có ý thức hoặc không” chính là lựa chọn sự sống hoặc cái chết.

Ý thức – đối với những sinh vật sống sở hữu nó – là phương tiện sinh tồn cơ bản. Đối với con người, lý trí là phương tiện sinh tồn cơ bản. Con người không thể tồn tại bằng hướng dẫn của những tri giác đơn thuần, như các động vật. Cảm giác đói sẽ nhắc nhở rằng ta cần thức ăn (nếu ta đã học được cách xác định đó là “cơn đói”), nhưng sẽ không chỉ dẫn ta làm thế nào để có thức ăn hay loại thức ăn nào tốt, loại nào độc hại. Ta không thể đáp ứng nhu cầu vật lý cơ bản của mình nếu không có quá trình tư duy. Ta cần quá trình tư duy để khám phá cách trồng trọt và gia tăng thức ăn cũng như chế tạo vũ khí để săn bắt. Tri giác có thể dẫn ta đến một hang động, nếu hang động ấy có sẵn – nhưng để xây dựng được một nơi cư trú đơn giản nhất, ta cần quá trình tư duy. Không có nhận biết hay “bản năng” nào có thể hướng dẫn cho ta cách tạo ra lửa, cách dệt vải, rèn công cụ, chế tạo bánh xe, lắp ráp máy bay, giải phẫu ruột thừa, chế tạo bóng đèn, đèn điện tử chân không, máy gia tốc, hay một hộp diêm. Tuy nhiên, cuộc sống của ta phụ thuộc vào những tri thức như vậy – và chỉ có hành động thuộc về ý chí từ ý thức của ta, một quá trình tư duy, mới có thể cung cấp tri thức ấy.

Nhưng trách nhiệm của con người còn đi xa hơn thế: quá trình tư duy không tự động, không thuộc về “bản năng”, không tùy ý, cũng như không thể không sai lầm. Con người phải khởi xướng quá trình tư duy, duy trì nó, và chịu trách nhiệm về kết quả của nó. Ta phải khám phá cách để biết điều gì đúng hay điều gì sai và làm thế nào để sửa chữa những sai lầm của bản thân, ta phải khám phá cách xác minh những khái niệm, kết luận, và tri thức của mình, ta phải khám phá những nguyên tắc của tư duy, quy luật logic, để điều hướng tư duy của mình. Tự nhiên không cho ta bất kỳ sự bảo đảm tự động nào về hiệu quả của những nỗ lực trí tuệ đó.

Con người trên trái đất không được trao sẵn điều gì ngoại trừ tiềm năng và chất liệu để hiện thực hóa tiềm năng đó. Tiềm năng là một cỗ máy tối thượng: đó chính là ý thức của ta; nhưng nó là một cỗ máy không có bộ phận đánh lửa, một cái máy mà bản thân ý chí của chính ta phải là hệ thống đánh lửa, bộ tự khởi động, kiêm chương trình điều khiển; ta phải khám phá cách sử dụng, và ta phải giữ cho nó vận hành liên tục. Chất liệu là toàn bộ vũ trụ này, với sự vô hạn về tri thức mà ta có thể đạt được, và về niềm vui sống cũng thế. Nhưng mọi thứ ta cần hay muốn đều phải được học hỏi, khám phá và tạo ra bởi chính ta – bởi lựa chọn của chính bản thân, bởi nỗ lực của chính ta, bởi trí tuệ của chính mình.

Một thực thể người mà không chắc chắn biết cái gì phải hay trái, thì không thể chắc chắn biết cái gì đúng hay sai, cái gì tốt hay xấu cho mình. Nhưng bản thân cần tri thức đó để sống. Ta không được miễn trừ khỏi quy luật của thực tại, ta chỉ là một sinh vật đặc trưng có bản chất đặc trưng, cần những hành động đặc trưng để duy trì sự sống. Ta không thể tồn tại bằng những phương thức tùy tiện, những chuyển động bừa bãi, những thôi thúc mù quáng, sự ngẫu nhiên hay ý thích bất chợt. Những thứ mà sự sống còn của ta đòi hỏi được thiết lập bởi bản chất của ta và không để ngỏ cho ta lựa chọn. Điều để ngỏ cho lựa chọn của ta, chỉ là, liệu ta có khám phá nó hay không, liệu ta có lựa chọn những mục tiêu và giá trị đúng đắn hay không. Ta có tự do để lựa chọn sai lầm, nhưng không được tự do để thành công cùng nó. Ta có tự do để trốn tránh thực tại, ta có tự do để xao lãng tâm trí và mù quáng sa chân vào bất kỳ con đường nào mà ta muốn, nhưng không tự do để tránh khỏi những vực thẳm mà ta từ chối quan sát. Tri thức, đối với bất kỳ sinh vật có ý thức nào, là phương tiện sinh tồn; đối với một ý thức sống, mỗi cái “là (is)” ngụ ý cho một cái “phải (ought)”. Con người được tự do lựa chọn trở nên không ý thức, nhưng không được tự do chọn thoát khỏi hình phạt của sự không ý thức: sự hủy diệt. Con người là sinh vật sống duy nhất có quyền lực để hành động như một kẻ tự hủy diệt chính mình – và đó chính là cách mà con người đã hành động trong suốt hầu hết lịch sử của mình.

Vậy thì, những mục tiêu nào là đúng đắn để con người theo đuổi? Những giá trị nào là cần phải có cho sự sinh tồn của con người? Đó là câu hỏi cần được trả lời bởi ngành khoa học về đạo đức. Và thưa quý ông quý bà, đây là lý do tại sao con người cần một bộ quy tắc đạo đức.

Bây giờ, bạn có thể đánh giá ý nghĩa của những học thuyết nói với bạn rằng đạo đức là địa phận của phi lý trí, rằng lý trí không thể dẫn dắt sự sống của con người, rằng những mục tiêu và giá trị của một người nên được lựa chọn bằng bình bầu hoặc bằng ý thích bất chợt – rằng đạo đức không liên quan gì tới thực tại, hay sự hiện hữu, hay những hành động và mối quan tâm thực tiễn của con người – hoặc rằng mục tiêu của đạo đức nằm sau nấm mộ, rằng chỉ người chết mới cần đạo đức, chứ không phải người sống.

Đạo đức không phải là một ảo mộng huyền bí – hay một quy ước xã hội – cũng không phải là một thứ xa xỉ chủ quan, có thể miễn trừ, nhằm được chuyển đổi hay loại bỏ trong bất kỳ tình huống khẩn cấp nào. Đạo đức là một điều thiết yếu, thuộc về siêu hình học, khách quan, cho sự sinh tồn của con người – không phải do ân sủng của đấng siêu nhiên, của hàng xóm, hay do ý thích bất chợt của bản thân, mà bởi trọng đãi của thực tại và bản chất của sự sống.

Tôi trích dẫn phát biểu của Galt: “Con người được gọi là một sinh thể có lý trí, nhưng lý trí là vấn đề về sự lựa chọn – và lựa chọn mà bản chất của ta đưa ra cho ta, là: sinh thể có lý trí hoặc động vật tự kết liễu. Con người phải ra người – bằng lựa chọn; ta phải nắm giữ sự sống của mình như một giá trị – bằng lựa chọn; ta phải học cách duy trì sự sống đó – bằng lựa chọn; ta phải khám phá những giá trị mà sự sống đòi hỏi và thực hành những phẩm hạnh của bản thân – bằng lựa chọn. Một bộ quy tắc về giá trị được chấp thuận bởi sự lựa chọn là một bộ quy tắc về đạo đức.”

Tiêu chuẩn giá trị theo đạo đức học Khách quan luận – tiêu chuẩn mà theo đó ta đánh giá điều gì tốt/ xấu – là sự sống của con người, hay: điều cần phải có cho sự tồn tại của con người với tư cách là một con người.

Vì lý trí là phương tiện sinh tồn cơ bản của con người, nên điều gì đúng đắn cho sự sống của một sinh thể có lý trí, là điều tốt/điều thiện, và điều gì phủ định, chống lại hay hủy hoại sự sống, là điều xấu/điều ác.

Vì mọi thứ con người cần đều phải được khám phá bằng chính tư duy của bản thân và được tạo ra bằng nỗ lực của chính mình, nên hai yếu tố cần thiết của phương pháp sinh tồn đúng đắn cho một sinh thể có lý trí là: tư duy và hoạt-động sản-suất-sáng-tạo.

Nếu một số người không lựa chọn tư duy, mà sống sót bằng bắt chước và lặp lại, như những con vật được huấn luyện, họ học những âm thanh và chuyển động thường ngày ở người khác, và không bao giờ thực sự nỗ lực để hiểu hành động của chính họ, thì sự thật vẫn không thay đổi, sự sống còn của họ chỉ khả dĩ nhờ vào những người đã chọn tư duy và chọn khám phá những chuyển động mà họ đang lặp lại. Sự sinh tồn đó, ở những kẻ ký sinh trí tuệ, phụ thuộc vào vận may rủi không rõ ràng; tâm trí vô định của họ không thể biết được cần bắt chước ai, hay cần làm theo những chuyển động của ai để an toàn. Họ là những kẻ bước đều thẳng xuống vực, bám theo bất kỳ kẻ hủy diệt nào – kẻ hứa hẹn nhận lãnh trách nhiệm mà họ trốn tránh: trách nhiệm sống có ý thức.

Nếu một số người cố sống sót bằng vũ lực hay lừa đảo, thông qua cướp bóc, cưỡng đoạt, bịp bợp hay nô lệ hóa những người sản xuất, thì sự thật vẫn không thay đổi, sự sống còn của họ chỉ khả dĩ nhờ vào những nạn nhân ấy, nhờ vào những người đã chọn tư duy và chọn tạo dựng tài sản mà họ, những kẻ cướp bóc, đang chiếm giữ. Những kẻ cướp bóc này là ký sinh trùng, không có khả năng sinh tồn, những kẻ tồn tại bằng việc hủy diệt những người năng lực, những người đang theo đuổi một lối hành động phù hợp với con người.

Những người cố sống sót, không phải bằng phương tiện lý trí, mà bằng phương tiện vũ lực, là đang cố sống sót bằng phương pháp của loài vật. Nhưng, động vật sẽ không thể sống sót bằng việc thử dùng phương pháp của thực vật, bằng cách từ chối di chuyển và chờ dinh dưỡng từ đất – cũng vậy, con người cũng không thể sinh tồn bằng việc thử dùng phương pháp của động vật, bằng cách từ chối lý trí và dựa vào những người làm việc sáng-tạo phục vụ như những con mồi của họ. Những kẻ cướp đó có thể đạt được mục tiêu của mình trong phạm vi ngắn hạn, với cái giá của sự hủy diệt: hủy diệt nạn nhân của họ và hủy diệt chính họ. Với tư cách làm bằng chứng, tôi cung cấp cho bạn bất kỳ tội ác hay bất kỳ chế độ độc tài nào để chứng minh.

Con người không thể tồn tại, như một con vật, bằng hành động ngắn hạn. Đời sống của một con vật bao gồm một chuỗi những chu kỳ riêng rẽ, lặp đi lặp lại, ví như chu kỳ nuôi con, hay dự trữ thức ăn cho mùa đông; ý thức của một con vật không thể tích hợp suốt khoảng thời gian sống của nó, nó có thể được duy trì đến một thời điểm nhất định, rồi con vật phải bắt đầu lại toàn bộ chu kỳ lần nữa, mà không hề có bất cứ liên hệ nào với những gì đã xảy ra. Cuộc sống con người là một tổng thể liên tục: dù tốt hay xấu, mỗi ngày, mỗi năm, mỗi thập kỷ, cuộc đời ta là toàn bộ những ngày ta đã trải qua. Ta có thể thay thế các lựa chọn, ta được tự do thay đổi hướng đi của mình, trong một vài trường hợp, ta thậm chí còn được tự do để chuộc lại lỗi lầm trong quá khứ – song, ta không được tự do trốn tránh những lỗi lầm ấy, cũng không được tự do sống cuộc đời mình mà không bị trừng phạt bởi những khoảnh khắc hiện tại, như một con vật, một tay chơi hay một gã côn đồ. Nếu ta muốn thành công trong nhiệm vụ sinh tồn, nếu hành động của ta không nhằm mục đích hủy hoại chính mình, ta phải chọn đường hướng, mục tiêu và giá trị của mình trong bối cảnh và tiêu chuẩn của một đời người. Không có cảm giác, tri giác, thôi thúc hay “bản năng” nào có thể làm được điều đó; duy chỉ tâm trí là có thể.

Đó chính là ý nghĩa của định nghĩa: những điều cần phải có cho sự tồn tại của con người với tư cách một con người. Nó không có nghĩa là sự tồn tại nhất thời hoặc đơn thuần về mặt vật lý. Nó không có nghĩa là sự tồn tại thể chất nhất thời của một kẻ cục súc vô tri, chờ đợi một kẻ cục súc khác nghiền nát hộp sọ của hắn. Nó không có nghĩa là sự tồn tại thể chất nhất thời của một tập hợp những kẻ vai u thịt bắp đang lê bước, sẵn sàng chấp nhận bất kỳ điều kiện nào, tuân theo bất kỳ kẻ côn đồ nào và đầu hàng bất kỳ giá trị nào, vì lợi ích của cái gọi là “sống sót bằng mọi giá”, vốn có thể hoặc không thể kéo dài tới một tuần hay một năm. “Sự tồn tại của con người với tư cách là con người” có nghĩa là những điều khoản, phương pháp, điều kiện và mục tiêu cần phải có cho sự tồn tại của một thực thể có lý trí trong suốt toàn bộ khoảng thời gian sống của mình – trong tất cả các khía cạnh mà sự sống mở ra cho ta lựa chọn.

Con người không thể tồn tại như bất cứ sinh vật nào khác ngoài chính con người. Ta có thể từ bỏ phương tiện tồn tại của mình, tâm trí của mình, ta có thể biến mình thành một sinh vật không giống người và có thể biến sự sống của mình thành một cơn hấp hối ngắn ngủi – như thể thân xác của ta có thể tồn tại thoáng chốc trong quá trình mục rữa bởi bệnh tật. Nhưng ta không thể thành công trong việc đạt được bất kỳ điều gì với tư cách là một sinh vật không giống người, ngoại trừ là một sinh vật cấp thấp – như những nỗi kinh hoàng xấu xí của thời kỳ phi lý trí trong lịch sử loài người có thể minh chứng. Con người phải trở thành người bằng lựa chọn – và chính nhiệm vụ của đạo đức dạy ta cách sống như một con người.

Đạo đức học Khách quan luận xem sự sống của con người là tiêu chuẩn của giá trị – và bản thân cuộc sống của mỗi người là mục đích đạo đức của cá nhân ấy.

Sự khác biệt giữa “tiêu chuẩn” và “mục đích” trong ngữ cảnh này là như sau: “tiêu chuẩn” là một nguyên tắc tổng quát (abstract) được dùng làm phương tiện đánh giá hay thước đo để hướng dẫn các lựa chọn của con người nhằm đạt được cái mục đích cụ thể, rõ ràng. “Điều cần phải có cho sự tồn tại của con người với tư cách là con người” là một nguyên tắc tổng quát, áp dụng với mỗi cá thể con người. Nhiệm vụ áp dụng nguyên tắc này cho một mục đích cụ thể, rõ ràng – mục đích sống một cuộc sống phù hợp với một thực thể có lý trí – thuộc về mỗi cá nhân con người, và cuộc sống mà ta phải sống là của riêng ta.

Con người phải chọn những hành động, những giá trị và những mục tiêu của mình theo tiêu chuẩn về điều gì đúng đắn với con người – để đạt được, duy trì, hoàn thành và tận hưởng giá trị tối thượng đó, mục đích tự thân đó, vốn là sự sống của riêng ta.

Giá trị là cái mà một người hành động để đạt được và/hoặc giữ gìn – phẩm hạnh là hành động mà thông qua đó một người đạt được và/hoặc giữ gìn. Ba giá trị cốt yếu ở đạo đức học Khách quan luận – ba giá trị, mà cùng nhau, là phương tiện và là hiện thực hóa về giá trị tối thượng của bản thân, sự sống của riêng ta – đó là: Lý trí (Reason), Mục đích (Purpose), và Tự tôn (Self-Esteem), tương ứng với ba phẩm hạnh: (Sự) Có lý trí/Hữu trí (Rationality), (Sự) Sản-xuất-sáng-tạo (Productiveness), và (Sự) Kiêu hãnh (Pride).

Hoạt-động sản-suất-sáng-tạo là mục đích trung tâm trong cuộc đời của một con người có-lý-trí, là giá trị trung tâm hợp nhất và xác định thứ bậc của tất cả những giá trị khác. Lý trí là căn nguyên, là điều kiện tiên quyết đối với hoạt-động sản-suất-sáng-tạo – còn Kiêu hãnh chính là kết quả.

Hữu trí là phẩm hạnh cơ bản của con người, là nguồn gốc của mọi phẩm hạnh khác. Thói xấu cơ bản của một người, nguồn gốc của mọi cái ác, là hành động của tâm trí vô định, đình hoãn ý thức, không phải do mù quáng mà do từ chối quan sát, không phải do không biết, mà do từ chối biết. Phi lý trí là chối bỏ các phương tiện sinh tồn của con người và do đó, dấn thân vào con đường của sự hủy diệt mù quáng; đó là chống lại tâm trí, chống lại sự sống.

Phẩm hạnh Hữu trí nghĩa là sự công nhận và chấp thuận rằng lý trí là nguồn tri thức duy nhất, là thẩm phán duy nhất của giá trị và là hướng dẫn duy nhất cho hành động. Điều đó có nghĩa là một cam kết trọn vẹn của con người với một trạng thái nhận thức có ý thức, ở mức cao nhất, với việc duy trì sự chuyên-chú-chủ-đích thuộc về trí óc ở mức cao nhất trong mọi vấn đề, mọi lựa chọn, mọi khoảnh khắc có ý thức của con người. Điều đó có nghĩa là sự cam kết với nhận thức đầy đủ nhất về thực tại trong khả năng của một người và với sự mở rộng liên tục, chủ động của nhận thức, tức là tri thức của một người. Điều đó có nghĩa là cam kết với thực tại về chính sự tồn tại của một người, tức là, với nguyên tắc rằng tất cả mục tiêu, giá trị và hành động của một người diễn ra trong thực tại, và vì vậy, người ta không bao giờ được đặt bất cứ giá trị hay khả năng nào lên trên nhận thức về thực tại. Điều đó có nghĩa là sự cam kết với nguyên tắc rằng tất cả niềm tin, giá trị, mục tiêu, khát vọng và hành động của một người phải dựa trên, xuất phát từ, được lựa chọn và xác tín bởi một quá trình tư duy – một quá trình tư duy rõ ràng và tuyệt đối chân thật, được điều hướng không ngừng bởi sự vận dụng logic nghiêm ngặt, bởi năng lực tối đa của một người cho phép. Điều đó có nghĩa là con người nhận lấy trách nhiệm về việc hình thành phán xét riêng của bản thân và về việc sống bằng hoạt động trí tuệ của chính mình (vốn là phẩm hạnh Độc lập – Independence). Điều đó nghĩa là con người tuyệt đối không được hy sinh niềm tin của mình vì ý kiến hay mong ước của người khác (tức là phẩm hạnh Toàn vẹn/Nhất quán – Integrity) – rằng con người tuyệt đối không được cố giả mạo hiện thực bằng bất cứ  cách nào (đó là phẩm hạnh Trung thực – Honesty) – rằng con người tuyệt đối không được săn đón hay bố thí cho những kẻ ăn bám, những kẻ không xứng đáng, cả về vật chất lẫn tinh thần (đó là phẩm hạnh Công bằng – Justice). Điều đó có nghĩa là con người tuyệt đối không được khao khát kết quả mà không có nguyên nhân, cũng như tuyệt đối không được đưa ra một nguyên nhân mà không chịu trách nhiệm hoàn toàn cho những hệ quả của nó – rằng con người tuyệt đối không được hành động như một xác sống, tức là, hành động mà không biết đến mục đích và động cơ của chính mình – rằng con người tuyệt đối không được quyết định điều gì, kiến tạo niềm tin nọ hay tìm kiếm bất cứ giá trị nào nằm ngoài bối cảnh, nghĩa là xa rời hay chống lại tổng thể tri thức hợp nhất, toàn vẹn của bản thân – và, trên hết, con người tuyệt đối không được tìm cách trốn tránh mâu thuẫn. Điều đó có nghĩa là từ chối bất kỳ hình thức nào của chủ nghĩa thần bí, tức là, bất cứ tuyên bố nào liên quan đến nguồn tri thức phi cảm giác, phi lý trí, không xác định được và siêu nhiên. Đó nghĩa là cam kết với lý trí, không phải trong những sự điều chỉnh rời rạc, trong các vấn đề được tuyển chọn, hay các trường hợp khẩn cấp đặc biệt, mà là một lối sống lâu dài.

Phẩm hạnh Sản-xuất-sáng-tạo là công nhận sự thật rằng hoạt-động sản-xuất-sáng-tạo là quá trình mà nhờ đó trí óc con người duy trì sự sống của bản thân, là quá trình giải phóng con người khỏi sự ép buộc phải điều chỉnh bản thân theo hoàn cảnh, giống như tất cả các loài động vật vẫn làm, và cho mình sức mạnh để điều chỉnh hoàn cảnh theo bản thân. Hoạt-động sản-xuất-sáng-tạo là con đường đạt được thành tựu không giới hạn của con người và đòi hỏi những tố chất nhân cách cao nhất: năng lực sáng tạo, tham vọng, khả năng tự khẳng định, sự từ chối chịu đựng những thảm họa được-mặc-nhiên-chấp-nhận [tức là, xây dựng lại bằng hoạt-động sáng-tạo], sự cống hiến cho mục tiêu tái định hình cuộc đời theo quan niệm giá trị của bản thân. “Hoạt-động sản-xuất-sáng-tạo” không có nghĩa là thực thi một cách vô định những tác vụ của công việc nào đó. Nó có nghĩa là hoạt động được-lựa-chọn một cách có ý thức đối với sự nghiệp sáng-tạo, ở bất kỳ lĩnh vực nỗ lực có lý trí nào, dù vĩ đại hay khiêm tốn, ở bất kỳ trình độ năng lực nào. Ở đây, về mặt đạo đức, nó không liên quan đến việc năng lực của một người ở mức độ nào, hay quy mô hành động của anh ta ra sao, mà là việc sử dụng tâm trí trọn vẹn nhất và có mục đích nhất.

Phẩm hạnh Kiêu hãnh là việc thừa nhận sự thật “rằng, vì con người phải tạo ra những giá trị vật chất mà bản thân cần để duy trì sự sống, nên ta phải có được những giá trị tính cách khiến cho sự sống của mình xứng đáng để duy trì – rằng, vì con người là một sinh thể tự-tạo-tài-sản cho mình, nên ta cũng là một sinh thể tự-tạo-linh-hồn cho bản thân.” (Atlas Shrugged). Phẩm hạnh Kiêu hãnh có thể được miêu tả chuẩn xác nhất bởi thuật ngữ: “tham vọng đạo đức.” Nghĩa là, ta phải đạt được quyền xem bản thân mình là giá trị cao nhất của chính mình, bằng cách đạt được sự hoàn hảo về đạo đức cho chính mình – điều mà ta đạt được bằng cách không bao giờ chấp nhận bất kỳ quy tắc đạo đức phi lý trí nào mà ta không thể thực hành và bằng cách không bao giờ không thực hành những đức tính mà ta biết là hợp lý – bằng cách không bao giờ chấp nhận một tội lỗi không đáng có (unearned guilt[4]) và không bao giờ chủ đích phạm tội lỗi, hoặc nếu đã mắc phải tội lỗi, thì không bao giờ để mặc mà không sửa chữa – bằng cách không bao giờ chấp nhận đầu hàng một cách thụ động trước bất kỳ khiếm khuyết nào trong tính cách của mình – bằng cách không bao giờ đặt bất kỳ mối quan tâm, mong muốn, nỗi sợ hay tâm trạng nhất thời nào lên trên thực tại về lòng tự tôn của bản thân. Và trên hết, điều đó có nghĩa là ta từ chối vai trò của vật hiến tế, từ chối bất kỳ học thuyết nào rao giảng hành động tự hy sinh tính mạng như một phẩm hạnh hay bổn phận đạo đức.

Nguyên tắc xã hội cơ bản của đạo đức Khách quan luận, là, sự sống là mục đích tối thượng, cũng vậy, mỗi thực thể người đang sống là mục đích tối thượng của chính mình, không phải là phương tiện để đi đến mục đích, hoặc phương tiện cho sự thịnh vượng của người khác – và, do vậy, mỗi người phải sống vì lợi ích của chính mình, không hy sinh bản thân cho kẻ khác cũng không hy sinh người khác cho chính mình. Sống vì lợi ích của chính mình nghĩa là việc đạt được hạnh phúc cho chính bản thân là mục đích đạo đức cao cả nhất của con người.

Về mặt tâm lý học, sự tồn tại của ta không đối đầu với ý thức của chính ta như vấn đề về “sống hoặc chết”, mà như vấn đề về “hạnh phúc hoặc khổ đau”. Hạnh phúc là trạng thái thành công của sự sống, đau khổ là tín hiệu cảnh báo của thất bại, của cái chết. Cơ chế niềm vui – nỗi đau của cơ thể con người là một chỉ báo tự động về thịnh vượng hay thương tổn trên cơ thể, một phong vũ biểu về lựa chọn thay thế cơ bản của bản thân, sống hoặc chết, cũng vậy, cơ chế cảm xúc của ý thức con người hướng tới phục vụ việc thực thi cùng chức năng, một phong vũ biểu ghi nhận sự lựa chọn thay thế giống hệt vậy thông qua hai cảm xúc cơ bản: vui sướng hoặc thống khổ. Cảm xúc là kết quả tự động từ việc phán xét giá trị của con người do tiềm thức của bản thân tích hợp; cảm xúc là sự đánh giá điều gì đẩy mạnh hoặc đe dọa các giá trị của bản thân, điều gì có lợi hay chống lại ta – là chiếc máy tính nhanh như chớp cho ta biết tổng lợi nhuận hoặc tổn thất mình đang có.

Tuy nhiên, nếu như tiêu chuẩn giá trị vận hành cơ chế vật lý về niềm vui – nỗi đau trong cơ thể con người là tự động và bẩm sinh, được quyết định bởi bản chất cơ thể người – thì tiêu chuẩn giá trị vận hành cơ chế cảm xúc của con người lại không thế. Vì con người không có tri thức tự sinh, nên không có giá trị tự sinh; vì con người không có bất kỳ ý tưởng bẩm sinh nào, nên cũng không thể có những phán xét giá trị bẩm sinh.

Con người sinh ra đã có cơ chế cảm xúc, cũng tương tự như việc ta sinh ra đã có cơ chế nhận thức vậy; nhưng, khi chào đời, cả hai cơ chế này đều là “trang giấy trắng” (tabula rasa). Chính khả năng nhận thức của con người, tâm trí của con người, mới là thứ quyết định nội dung của chúng. Cơ chế cảm xúc của con người giống như một chiếc máy tính điện tử, mà tâm trí của bản thân phải lập trình – và việc lập trình bao gồm những giá trị mà tâm trí mình lựa chọn.

Song, vì tâm trí con người không tự động hoạt động, nên giá trị của bản thân, cũng như tất cả tiền đề của bản thân, đều là sản phẩm của tư duy hoặc thoái thác: con người lựa chọn giá trị của bản thân bằng một quá trình tư duy có ý thức – hoặc chấp nhận các giá trị một cách ngầm định, bằng những liên kết tiềm thức, dựa trên đức tin, dựa trên thẩm quyền của ai đó, bằng một dạng thẩm thấu xã hội hoặc bắt chước mù quáng. Cảm xúc được sản sinh từ những tiền đề của con người, được nắm giữ theo ý thức hoặc tiềm thức, tường minh hoặc ngầm ẩn.

Con người không được lựa chọn về khả năng cảm thấy điều gì là tốt hoặc xấu cho mình, nhưng điều bản thân cho là tốt hoặc xấu, điều sẽ đem đến cho bản thân niềm vui hoặc nỗi đau, điều mà bản thân sẽ yêu hoặc ghét, khát khao hoặc sợ hãi, lại phụ thuộc vào tiêu chuẩn giá trị của bản thân. Nếu ta lựa chọn những giá trị phi lý trí, ta sẽ biến cơ chế cảm xúc của mình từ vai trò của một vệ thần thành kẻ hủy diệt bản thân. Điều phi lý trí là điều bất khả thi; nó là thứ mâu thuẫn với sự thật trong thực tại; những sự thật không thể được thay thế bằng một mong muốn, nhưng chúng có thể hủy diệt người mong muốn kia. Nếu ta khao khát và theo đuổi những điều mâu thuẫn – nếu ta vừa muốn ăn cái bánh của mình lại vừa muốn còn cái bánh đó – thì ta đang phân rã ý thức của mình; ta đang biến sự sống bên trong mình thành cuộc nội chiến giữa những xung lực mù quáng thực hiện trong những xung đột vô nghĩa, không mục đích, rời rạc, đen tối (vốn, một cách tình cờ, là trạng thái bên trong của hầu hết con người ngày nay).

Hạnh phúc là trạng thái ý thức tiến triển từ thành tựu về các giá trị mà ta đạt được. Nếu một người coi trọng hoạt-động sản-xuất-sáng-tạo, thì hạnh phúc là thước đo mức độ thành công trong công cuộc phục vụ sự sống của bản thân. Nhưng nếu một người coi trọng sự hủy diệt, như một kẻ tàn bạo – hay hành động tự tra tấn, như một kẻ thích bị ngược đãi – hay sự sống ở thế giới bên kia, như một gã huyền môn – hay “những trò liều mạng” ngu ngốc, như một tay lái xế độ hot rod – thì cái gọi là hạnh phúc của kẻ đó là thước đo mức độ thành công của hắn trong công cuộc hủy hoại chính mình. Cũng phải nói thêm rằng trạng thái cảm xúc của tất cả những kẻ phi lý trí nói trên không xứng đáng được gọi là hạnh phúc, hay thậm chí là niềm vui sướng: đó chỉ đơn thuần là một khoảnh khắc được giải thoát khỏi trạng thái khủng hoảng kinh niên của họ.

Cả sự sống lẫn hạnh phúc đều không thể đạt được bởi việc theo đuổi những ý thích bất chợt phi lý trí. Con người được tự do cố gắng để tồn tại bằng bất cứ cách thức ngẫu nhiên nào, như một kẻ ăn bám, một tay lừa đảo, hay một tên cướp giật, song không được tự do tiếp tục điều đó vượt ngoài phạm vi một khoảnh khắc – cũng thế, con người được tự do tìm kiếm hạnh phúc trong bất cứ sự lừa đảo phi lý trí, bất cứ ý thích bất chợt, bất cứ ảo tưởng, bất cứ cuộc đào tẩu dại dột khỏi thực tại, nhưng không được tự do tiếp tục điều đó vượt ngoài phạm vi một khoảnh khắc cũng như không được tự do trốn tránh hậu quả.

Tôi trích dẫn phát biểu của Galt: “Hạnh phúc là trạng thái niềm vui không mâu thuẫn – một niềm vui không đi kèm hình phạt hay tội lỗi, một niềm vui không xung đột với bất kỳ giá trị nào của bản thân và không khiến chính mình bị hủy hoại… Hạnh phúc chỉ khả dĩ với một người có lý trí, một người không khao khát gì ngoài những mục tiêu dựa trên lý trí, không theo đuổi điều gì ngoài những giá trị mang tính lý trí và chỉ tìm kiếm niềm vui không ở đâu khác ngoài những hành động theo lý trí.”

Việc duy trì sự sống và việc mưu cầu hạnh phúc không phải là hai vấn đề riêng rẽ. Xem sự sống của bản thân là giá trị tối thượng của chính mình, và xem hạnh phúc của bản thân là mục đích tối thượng của chính mình, chính là, hai mặt của cùng một thành tựu. Ở góc độ tồn tại, hoạt động theo đuổi các mục tiêu dựa trên lý trí là hoạt động duy trì sự sống; ở góc độ tâm lý, kết quả của nó, phần thưởng và tặng phẩm đi kèm, chính là một trạng thái hạnh phúc về mặt cảm xúc. Chính nhờ trải nghiệm hạnh phúc mà ta sống cuộc đời của mình, trong mỗi giờ, mỗi năm hay toàn bộ đời người. Và khi ta trải nghiệm kiểu hạnh phúc thuần khiết ấy, kiểu hạnh phúc là mục đích tự thân –  kiểu hạnh phúc khiến ta nghĩ: “Đây là điều khiến cuộc đời đáng sống” – những gì ta đang chào đón và khẳng định bằng những thuật ngữ cảm xúc chính là sự thật siêu hình học rằng sự sống, bản thân nó, là mục đích tối thượng.

Nhưng mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả không thể bị đảo ngược. Chỉ bằng cách chấp nhận “sự sống của con người” là điều chính yếu và bằng cách theo đuổi những giá trị mang tính lý trí mà sự sống đòi hỏi, con người mới có thể đạt được hạnh phúc – chứ không phải bằng việc coi “hạnh phúc” như một thứ tiền đề mơ hồ, không thể quy giản rồi nỗ lực sống bằng sự điều khiển của điều đó. Nếu bạn đạt được điều thiện lương theo tiêu chuẩn của lý trí về giá trị, điều đó nhất định sẽ khiến bạn hạnh phúc; nhưng điều khiến bạn hạnh phúc, theo một tiêu chuẩn cảm xúc bất định nào đó, thì không nhất thiết là điều tốt, cái thiện. Việc lấy “bất kỳ thứ gì khiến ta hạnh phúc” làm định hướng cho hành động, có nghĩa là: không gì khác dẫn dắt ngoài ý thích bất chợt thuộc về cảm xúc của bản thân. Cảm xúc không phải là công cụ của nhận thức; bị dẫn dắt bởi ý thích bất chợt – bởi những ham muốn mà ta không biết bản chất, nguồn cội và ý nghĩa của nó – tức là biến chính mình thành một thứ robot mù quáng, vận hành bởi những con quỷ bất khả tri (bởi những trốn tránh lặp đi lặp lại), một con robot sản sinh sự hiểu biết thụ động của nó dựa vào thành lũy thực tại mà nó từ-chối hiểu.

Điều này là ngụy biện cố hữu của chủ nghĩa khoái lạc – trong bất cứ biến thể nào của chủ nghĩa khoái lạc đạo đức, cá nhân hay xã hội, cá thể hay tập thể. “Hạnh phúc” có thể chính là mục đích của đạo đức, song không phải là tiêu chuẩn. Nhiệm vụ của đạo đức là xác định quy tắc giá trị đúng đắn của con người, qua đó trao cho ta phương tiện để đạt đến hạnh phúc. Việc tuyên bố rằng “giá trị đúng đắn là bất cứ điều gì mang lại cho bạn niềm vui”, như những người theo chủ nghĩa khoái lạc đạo đức đã nói, cũng đồng nghĩa với tuyên bố “giá trị đúng đắn là bất cứ điều gì bạn tình cờ coi trọng” – đó là một hành động từ bỏ trí tuệ và triết học, một hành động chỉ đơn thuần tuyên bố sự vô ích của đạo đức và mời mọc tất cả loài người chơi trò đỏ đen.

Những triết gia nào nỗ lực đưa ra bộ quy tắc đạo đức được cho là hợp lý, đã chẳng mang lại gì cho loài người ngoại trừ sự lựa chọn các ý thích bất chợt: sự theo đuổi “ích kỷ” các ý thích bất chợt của chính cá nhân một người (chẳng hạn đạo đức học của Nietzsche) – hay lòng phục vụ “quên mình” vì các ý thích bất chợt của người khác (như đạo đức học của Bentham, Mill, Comte và tất cả những người theo chủ nghĩa khoái lạc xã hội, cho dù họ chấp nhận để con người hòa tan ý thích của mình giữa hàng triệu những người khác hay khuyên con người biến mình thành một “Shmoo”[5] hoàn toàn quên mình, muốn dâng hiến bản thân cho người khác).

Khi một “ước muốn”, bất kể bản chất hay nguyên nhân của nó, được xem là một điều chính yếu về mặt đạo đức, và sự hài lòng của một vài, cũng như toàn bộ ước muốn được xem là mục tiêu đạo đức (chẳng hạn “hạnh phúc lớn nhất cho đại đa số”) – thì con người không có lựa chọn nào khác ngoài căm ghét, sợ hãi và ẩu đả với kẻ khác, bởi vì ước muốn và lợi ích của họ tất yếu sẽ mâu thuẫn nhau. Nếu “ước muốn” là tiêu chuẩn đạo đức, vậy thì ước muốn của một người muốn lao động và của một kẻ muốn cướp bóc từ người đó, đều có giá trị đạo đức như nhau; ước muốn của một người mong được tự do và của kẻ muốn biến anh ta thành nô lệ đều có giá trị đạo đức như nhau; ước muốn của một người được yêu thương và ngưỡng mộ vì phẩm hạnh của mình và của kẻ mong muốn tình yêu không xứng đáng có và sự ngưỡng mộ vô điều kiện đều có giá trị đạo đức như nhau. Và nếu sự thất bại của bất cứ mong muốn nào dẫn đến một sự hy sinh, thì người sở hữu chiếc xe mô tô nhưng bị cướp mất, là đang hy sinh, và kẻ muốn có, kẻ “khao khát” chiếc xe nhưng người chủ từ chối trao tặng cũng là hy sinh – và hai “sự hy sinh” này như nhau về mặt đạo đức. Nếu vậy, lựa chọn duy nhất của con người là cướp hoặc bị cướp, hủy diệt hoặc bị hủy diệt, hy sinh người khác vì mong muốn của chính mình hoặc hy sinh bản thân mình cho ước nguyện của người khác; nếu vậy, lựa chọn đạo đức duy nhất của con người, là, trở thành kẻ thủ ác hoặc kẻ thích bị ngược đãi.

Sự ăn thịt người mang tính đạo đức của tất cả các học thuyết thuộc trường phái khoái lạc và trường phái vị tha nằm ở tiền đề cho rằng hạnh phúc của một người đòi hỏi phải có sự hy sinh của kẻ khác.

Ngày nay, hầu hết mọi người xem tiền đề này là một nguyên lý không cần chất vấn. Và khi ai đó nói về quyền con người được tồn tại vì lợi ích của riêng mình, vì sự tư lợi dựa trên lý trí của chính mình, phần lớn mọi người đều tự động đồng nhất điều này với quyền hy sinh người khác. Giả định này chính là lời thú nhận về đức tin của chính họ, cái đức tin cho rằng gây hại, nô dịch, cướp bóc hay tàn sát kẻ khác đều nằm trong lợi ích cá nhân của một người – điều mà một người buộc phải từ bỏ một cách vị tha. Ý tưởng cho rằng lợi ích cá nhân của một người chỉ có thể thỏa mãn thông qua mối quan hệ không-hy-sinh với người khác, chưa bao giờ nảy ra với các tông đồ vị tha đi truyền bá sự không vị kỷ, những kẻ tuyên bố ước nguyện nhằm có được tình anh em ở loài người. Và điều đó sẽ không xảy ra với họ, hay với bất cứ ai, chừng nào khái niệm “có lý trí” còn bị loại khỏi bối cảnh “giá trị”, “khát khao”, “tư lợi” và đạo đức.

Đạo đức học Khách quan luận tự hào ủng hộ và đề cao tính vị kỷ dựa trên lý trí – có nghĩa là: giá trị cần phải có cho sự tồn tại của con người với tư cách là con người – có nghĩa là: giá trị cần thiết cho sự tồn tại của con người – không phải loại giá trị được tạo ra bởi ước muốn, cảm xúc, “nguyện vọng”, cảm giác, ý thích bất chợt hay nhu cầu của những kẻ cục súc phi lý trí, những kẻ chưa bao giờ ngừng thông lệ hiến tế con người thời sơ khai, chưa bao giờ khám phá xã hội công nghiệp cũng như chưa bao giờ có thể hình dung không có tư lợi nào ngoài việc [tư lợi để] chiếm đoạt chiến lợi phẩm trước mắt.

Đạo đức học Khách quan luận quan niệm rằng lợi ích của con người không đòi hỏi sự hy sinh và không thể đạt được bằng sự hy sinh của bất kỳ ai cho một người khác. Nó quan niệm rằng những lợi ích dựa trên lý trí của con người không mâu thuẫn với nhau – rằng không có xung đột lợi ích giữa những người không ao ước những điều không dưng mà có, những người không hy sinh cũng không chấp nhận sự hy sinh, những người đối đãi với người khác như thương nhân, đổi giá trị lấy giá trị.

Nguyên tắc thương mại là nguyên tắc đạo đức mang tính lý trí duy nhất cho mọi mối quan hệ của con người, kể cả quan hệ cá nhân và xã hội, tư nhân và công cộng, tinh thần và vật chất. Đó là nguyên tắc về công bằng.

Thương nhân là người lao động để đạt được những gì mình có được, và không trao đi hoặc nhận lấy những gì không xứng đáng. Anh ta không đối xử với người khác như ông chủ hay nô lệ, mà như những con người bình đẳng độc lập với nhau. Anh ta giao dịch với con người bằng cuộc trao đổi tự do, tự nguyện, không ép buộc, không cưỡng bức – một sự trao đổi mang lại lợi ích cho cả đôi bên thông qua phán xét độc lập của riêng họ. Một thương nhân không kỳ vọng được đền bù cho sự thất bại của mình, mà chỉ mong muốn được trả công cho những thành tựu của bản thân. Anh ta không chuyển gánh nặng do những thất bại của mình lên vai người khác, và anh ta không thế chấp sự sống của mình cho mối ràng buộc với thất bại của những người khác.

Trong những vấn đề về tinh thần – (khi dùng từ “tinh thần” ý tôi là: “thuộc về nhận thức của con người”) – thì tiền tệ hay phương tiện trao đổi là khác nhau, nhưng nguyên tắc vẫn là một. Yêu đương, thương mến, tôn trọng, ngưỡng mộ là phản hồi về mặt cảm xúc của một người đối với những phẩm hạnh của người kia, thù lao về tinh thần được trao đi để nhận lại những niềm vui sướng cá nhân, vị kỷ mà một người có được từ những phẩm hạnh trong tính cách của người kia. Chỉ có kẻ cục súc hoặc kẻ vị tha mới tuyên bố rằng sự trân trọng các phẩm hạnh của người khác là một hành động vị tha quên mình, rằng miễn là lợi ích vị kỷ và niềm vui của một người được cân nhắc, thì không có gì khác biệt giữa việc người đó đang giao thiệp với một thiên tài hay một kẻ ngốc, người đó gặp gỡ một người hùng hay một tay côn đồ, người đó kết hôn với một người lý tưởng hay một ả điếm. Trong những vấn đề tinh thần, thương nhân là người không trông chờ được yêu vì những điểm yếu hoặc khiếm khuyết của mình, mà vì những phẩm hạnh của anh ta, và là người không trao tình yêu của mình cho những điểm yếu hay khiếm khuyết của người khác, mà chỉ dành cho phẩm hạnh của họ.

Yêu thương tức là coi trọng. Chỉ có một người vị kỷ có lý trí, một người có lòng tự tôn, mới có khả năng yêu – bởi vì anh ta là người duy nhất có khả năng nắm giữ những giá trị vững chắc, nhất quán, không thỏa hiệp, không phản bội. Ai không quý trọng chính mình, thì không thể quý trọng bất kỳ thứ gì hay bất kỳ ai khác.

Chỉ có trên nền tảng của sự vị kỷ mang tính lý trí – trên nền tảng của sự công bằng – con người mới có thể hòa hợp để sống cùng nhau trong một xã hội tự do, an toàn, thịnh vượng, nhân văn, và trí.

Con người có thể nhận được bất kỳ lợi ích cá nhân nào từ việc sống trong một xã hội loài người không? Có – nếu đó là một xã hội loài người. Hai giá trị vĩ đại đạt được từ sự tồn tại trong xã hội là: tri thức và thương mại. Con người là loài duy nhất có thể truyền tải và mở rộng kho tàng tri thức của mình từ thế hệ này sang thế hệ khác; tri thức tiềm năng sẵn có cho con người nhiều hơn bất kỳ một cá thể người nào có thể thu nhận được trong suốt vòng đời của chính mình; mỗi người nhận được một lợi ích khôn lường từ những tri thức được khám phá bởi những người khác. Lợi ích to lớn thứ hai là sự phân công lao động: nó cho phép con người cống hiến nỗ lực vào một lĩnh vực công việc cụ thể và giao dịch với những người khác – những người có chuyên môn ở những lĩnh vực khác. Hình thức hợp tác như vậy cho phép tất cả những người tham gia vào quá trình này đạt được tri thức, kỹ năng và lợi-nhuận-về-giá-trị cao hơn dựa trên nỗ lực của họ so với mức họ có thể đạt được nếu mỗi người phải làm ra mọi thứ mình cần, trong một ốc đảo giữa sa mạc hoặc một nông trại tự cung tự cấp.

Nhưng chính những lợi ích này đã chỉ ra, phân giới và xác định loại người nào có thể đem lại giá trị cho nhau và trong loại hình xã hội nào: chỉ có những người độc lập, sáng-tạo, có-lý-trí trong một xã hội tự do, sáng-tạo, có-lý-trí mới có thể. Những kẻ ký sinh ăn bám, những kẻ cắp biếng nhác, những kẻ cướp bóc, những kẻ cục súc và những kẻ côn đồ hung bạo không thể có giá trị gì đối với một thực thể người – mà những kẻ đó cũng không thu nhận được bất kỳ lợi ích gì từ việc sống trong một xã hội hướng tới những yêu cầu, nhu cầu và sự bảo trợ cho chính chúng, một xã hội đối xử với chúng như vật hiến tế, trừng phạt chúng vì những phẩm hạnh của bản thân, và trao thưởng cho chúng vì những thói tật xấu xa của chính chúng, nghĩa là: một xã hội dựa trên đạo đức vị tha. Không một xã hội nào có thể đem lại giá trị cho sự sống của con người nếu cái giá phải trả là sự từ bỏ quyền sống của bản thân.

Nguyên tắc chính trị cơ bản ở Đạo đức học Khách quan luận là: không ai có thể được phép khởi xướng sử dụng bạo lực để chống lại người khác. Không ai – hay không nhóm nào, không xã hội nào, không chính phủ nào – có quyền đảm nhận vai trò của một tên tội phạm và khởi xướng việc sử dụng cưỡng chế vũ lực để chống lại bất kì ai khác. Con người có quyền sử dụng vũ lực chỉ để đáp trả cũng như chỉ để chống lại những ai khởi xướng việc sử dụng bạo lực. Nguyên tắc đạo đức liên quan đến vấn đề này rất đơn giản và rõ ràng: đó là sự khác biệt giữa giết người và tự vệ. Một tên cướp tìm cách để đạt được một giá trị, của cải bằng cách giết chết nạn nhân; nạn nhân không trở nên giàu có hơn bằng cách giết chết tên cướp ấy. Nguyên tắc là: không ai có thể đạt được bất cứ giá trị nào từ người khác thông qua sử dụng vũ lực.

Mục đích đạo đức đúng đắn duy nhất của một chính phủ, là, bảo vệ quyền con người, nghĩa là: bảo vệ sinh thể người khỏi bạo lực – bảo vệ quyền của chính mình đối với sự sống của bản thân, quyền tự-do (liberty)[6] của chính mình, quyền sở hữu của chính mình và mưu cầu hạnh phúc của chính mình. Không có quyền sở hữu, những quyền khác đều bất khả thi.

Tôi sẽ không cố gắng, trong bài giảng khái lược này, bàn đến khía cạnh chính trị của chủ nghĩa Khách quan. Những ai quan tâm sẽ thấy chủ đề này được đề cập đầy đủ trong Atlas Shrugged. Tôi sẽ chỉ nói rằng mọi hệ thống chính trị đều dựa trên và xuất phát từ một lý thuyết đạo đức – và rằng Đạo đức học Khách quan luận là nền tảng luân lý cần cho hệ thống kinh tế – chính trị mà ngày nay, đang bị hủy diệt trên toàn thế giới, chính xác là bị hủy diệt do thiếu một thành lũy và sự xác tín về đạo đức và triết học. Nếu nó diệt vong, nó sẽ diệt vong vì thiếu hành động tích cực, không được khám phá, không được nhận dạng: không một chủ thể nào khác bị vùi lấp bởi quá nhiều biến dạng, quan niệm sai lầm và xuyên tạc như vậy. Ngày nay, rất ít người biết chủ-nghĩa-tư-bản và gì, nó vận hành ra sao và lịch sử thật sự của nó là như thế nào.

Khi đề cập đến “chủ-nghĩa-tư-bản[7]”, ý của tôi là chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh toàn vẹn, thuần túy, không bị điều khiển, không bị kiểm soát – với sự tách biệt giữa nhà nước và kinh tế, theo cùng một cách và cùng lý do với sự tách biệt giữa nhà nước và tôn giáo. Một hệ thống chủ-nghĩa-tư-bản thuần túy, chưa bao giờ tồn tại, thậm chí ở Hoa Kỳ; những mức độ kiểm soát khác nhau của chính phủ đã cắt xén và bóp méo nó ngay từ đầu. Chủ-nghĩa-tư-bản không phải là một hệ thống của quá khứ, nó là hệ thống của tương lai – nếu nhân loại có một tương lai.

Với những ai quan tâm đến lịch sử và nguyên nhân tâm lý khiến các triết gia quay lưng lại với chủ-nghĩa-tư-bản, tôi sẽ nhắc lại rằng tôi đã đề cập đến vấn đề này trong lời tựa cuốn sách của tôi For the New Intellectual (tạm dịch “Dành cho trí thức mới”).[8]

Chủ đề thảo luận hiện tại phải được giới hạn trong phạm vi đạo đức, tôi vừa trình bày những điều cốt yếu tối thiểu nhất trong hệ thống triết học của tôi, nhưng chúng cũng đủ để chỉ ra rằng thông qua cách nào mà đạo đức học Khách quan luận là đạo đức của sự sống – chống lại ba trường phái lý thuyết đạo đức lớn: trường phái huyền học, trường phái xã hội và trường phái chủ quan, những trường phái đã đưa thế giới đến tình trạng hiện tại và đại diện cho đạo đức của cái chết.

Ba trường phái này chỉ khác nhau ở phương pháp tiếp cận, không phải ở nội dung. Về mặt nội dung, chúng chỉ là những biến thể của thuyết vị tha, lý thuyết đạo đức xem con người như vật hiến tế, cho rằng con người không có quyền tồn tại vì lợi ích riêng của mình, rằng phục vụ người khác là minh chứng duy nhất cho sự tồn tại của họ, rằng tự hy sinh là bổn phận đạo đức, phẩm hạnh và giá trị tối thượng của con người. Sự khác biệt chỉ nằm ở vấn đề ai sẽ hy sinh cho ai. Thuyết vị tha cho rằng cái chết là mục tiêu tối thượng, là tiêu chuẩn của giá trị – và theo logic, từ bỏ, cam chịu, tự phủ nhận, và tất cả các hình thức chịu đựng khác, bao gồm cả tự hủy diệt, là những đức tính nó ủng hộ. Và, cũng theo logic, đây là những điều duy nhất mà những tín đồ của trường phái vị tha hiện nay đã và đang đạt được.

Quan sát cho thấy ba trường phái lý thuyết đạo đức này đều chống lại sự sống, không chỉ về mặt nội dung mà còn về phương pháp tiếp cận.

Lý thuyết đạo đức huyền bí rõ ràng dựa trên tiền đề rằng tiêu chuẩn đạo đức của con người được thiết lập ở thế giới bên kia, bởi luật lệ và những yêu cầu của một chiều không gian siêu nhiên khác, rằng đạo đức không thể áp dụng cho con người để thực thi, rằng nó không phù hợp với và chống đối lại sự sống của con người trên trái đất, rằng con người phải chịu trách nhiệm vì đạo đức và chịu đựng suốt thời gian tồn tại trên trái đất, để chuộc lỗi vì đã không thể thực hành điều không thể thực hành được. Thời kỳ Đen tối và Trung Cổ chính là tượng đài hiện hữu cho lý thuyết đạo đức này.

Lý thuyết đạo đức xã hội thay thế Đấng tối cao bằng “xã hội” – và mặc dù nó tuyên bố rằng mối quan tâm chính yếu của nó là sự sống trên trái đất, song không phải là sự sống của con người, không phải sự sống cá nhân mà là sự sống của một thực thể không có thân xác hữu hình, đó là tập thể, điều mà, trong mối quan hệ với mỗi cá nhân, bao gồm tất cả mọi người ngoại trừ chính bản thân mỗi cá nhân. Đối với mỗi cá nhân, nghĩa vụ đạo đức của anh ta là quên mình đi, trở nên câm lặng, không có quyền mưu cầu bất cứ điều gì, người khác đưa ra yêu cầu hay đòi hỏi. Phương châm “sống sót bằng mọi giá” – không áp dụng cho cả chủ-nghĩa-tư-bản lẫn loài vật – được áp dụng cho lý thuyết đạo đức xã hội. Tượng đài hiện hữu của lý thuyết này chính là Đức Quốc Xã và Liên bang Xô Viết. 

Lý thuyết đạo đức chủ quan, nói trắng ra, không phải lý thuyết mà là sự phủ nhận đạo đức. Hơn thế nữa: đó là sự phủ định thực tại, sự phủ định không chỉ đơn thuần đối với sự tồn tại của con người mà là toàn bộ sự tồn tại. Chỉ có khái niệm về một cõi vô định mơ hồ, biến dạng, theo kiểu Heraclit mới có thể cho phép ai đó nghĩ và thuyết giáo rằng con người không cần đến những nguyên tắc hành động khách quan – rằng thực tại chẳng mang lại thước đo giá trị nào cho anh ta cả – rằng mọi thứ anh ta quan tâm để chọn lựa giữa điều tốt và điều xấu, sẽ làm việc đó – rằng ý thích bất chợt của một người là tiêu chuẩn đạo đức hợp lý, và rằng câu hỏi duy nhất là làm thế nào để thoát khỏi nó. Tượng đài hiện hữu cho lý thuyết này là tình trạng hiện thời ở nền văn hóa của chúng ta.

Không phải tình trạng vô đạo đức của con người là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ đang đe dọa thế giới văn minh ngày nay, mà chính là các kiểu nguyên tắc đạo đức con người đã và đang thực hành. Trách nhiệm thuộc về các triết gia của chủ nghĩa vị tha. Họ không có lý do để hốt hoảng bởi cảnh tượng thành công của chính họ, và không có quyền làm tổn hại đến bản chất con người: loài người đã vâng lời họ và đã đưa lý tưởng đạo đức của họ vào hiện thực trọn vẹn.

Chính triết học đặt ra các mục tiêu và xác định hướng hành động cho con người, giờ đây, chính triết học mới có thể cứu sống họ. Ngày nay, thế giới đang đối mặt với sự lựa chọn: nếu nền văn minh là sự tồn tại, con người buộc phải từ bỏ đạo đức vị tha.

Tôi sẽ khép lại bài giảng bằng phát biểu của John Galt, điều tôi cho là anh đã nói với các nhà đạo đức học của chủ nghĩa vị tha, ngày trước và bây giờ:

“Các ông đã sử dụng nỗi sợ hãi làm vũ khí của mình và đã mang đến cái chết cho con người như một hình phạt dành cho anh ta vì đã từ chối đạo đức của các ông. Chúng tôi mang đến sự sống cho con người như một phần thưởng dành cho anh ta vì chấp nhận đạo đức của chúng tôi.”


[1] [VOS] Ayn Rand, Atlas Shrugged, New York, NXB Random, 1957; Thư viện New American, 1959. Tài liệu được Ayn Rand công bố tại Hội thảo chuyên đề “Đạo đức trong thời đại chúng ta” tại Đại học Wisconsin, Madison, tiểu bang Wisconsin ngày 9/2/1961.

[2] [VOS] Khi áp dụng cho các hiện tượng vật lý, chẳng hạn như chức năng tự động của một sinh vật, thuật ngữ “hướng-mục-tiêu” không được dùng để chỉ nghĩa “có mục đích” (một khái niệm chỉ áp dụng cho các hành động của ý thức) và không ngụ ý sự tồn tại của bất kỳ nguyên tắc thuộc về mục đích nào hoạt động trong tự nhiên vô tri vô giác. Tôi sử dụng thuật ngữ “hướng-mục-tiêu” trong trường hợp này, để chỉ thực tế rằng các chức năng tự động của sinh vật sống là những hành động có bản chất dẫn đến bảo tồn sự sống của một sinh vật.

[3] Trong nguyên bản, Ayn Rand sử dụng từ “focus”, bản dịch quy ước dịch thành “chuyên-chú-chủ-đinh”, thống nhất trong ấn bản này. Xem thêm định nghĩa về “focus”: “Focus” (in the conceptual realm) names a quality of purposeful alertness in a man’s mental state. “Focus” is the state of a goal-directed mind committed to attaining full awareness of reality. () (tr 56 quyển OPAR, 1993, nxb Meridian, Penguin Group).

[4] Một người cho rằng đây là tội lỗi chỉ bởi vì tiêu chuẩn người này sử dụng (để đánh giá đó là tội lỗi) là tiêu chuẩn sai, chứ không phải bản thân việc đó là tội lỗi.

[5] Shmoo: Một sinh vật hoạt hình hư cấu rất nổi tiếng ở Mỹ, được họa sĩ Al Capp sáng tạo ra. Một đặc điểm của Shmoo là có vị rất ngon và rất háo hức được người khác ăn.

[6] Rand dùng từ “Liberty”, bản dịch dùng từ “tự-do” thống nhất trong ấn bản này để phân biệt với khái niệm “Freedom” (tự do).

[7] Bản dịch thống sử dụng cụm từ “chủ-nghĩa-tư-bản” nhất quán trong các tài liệu của Rand để chỉ khái niệm chủ nghĩa tư bản của Rand, không đánh đồng với các khái niệm chủ nghĩa tư bản được sử dụng ở những nguồn khác.

[8] [VOS] Ayn Rand, For the New Intellectual, New York: Nxb Random House, 1961; Thư viện New American, 1963


<<Trở lại mục lục>>

 

Bình luận về bài viết này