<<Lexicon
Nguồn: https://courses.aynrand.org/lexicon/unit-economy/
Vì ý thức là một năng lực cụ thể, nên nó có bản chất hoặc tính nhận dạng cụ thể và do đó, phạm vi của nó có giới hạn: nó không thể nhận biết mọi thứ cùng một lúc; vì sự nhận thức, ở tất cả mọi cấp độ, đòi hỏi một quá trình chủ động, cho nên nó không thể thực hiện mọi thứ cùng một lúc. Cho dù các đơn vị mà một người xử lý là các tri giác hay khái niệm, thì ở trung tâm sự nhận biết có ý thức của mình, tại một thời điểm bất kỳ, phạm vi những điều con người có thể nắm giữ vẫn có giới hạn. Do đó, bản chất năng lực nhận thức vô song của con người là khả năng quy giản một lượng lớn thông tin thành một số lượng đơn vị tối thiểu—nhiệm vụ này được thực hiện bởi năng lực khái niệm của con người. Và nguyên tắc giới hạn nhận thức luận (unit-economy) là một trong những nguyên tắc hướng dẫn cốt yếu của năng lực đó.
Bài viết: The Cognitive Role of Concepts (Vai trò nhận thức của các khái niệm)
Tựa sách: Introduction to Objectivist Epistemology (Giới thiệu về Nhận thức luận của Triết học Khách quan)
Trong bất kỳ khoảnh khắc cho trước nào, nơi trung tâm ý thức nhận biết của mình, các khái niệm cho phép con người nắm giữ được nhiều đối tượng hơn gấp bội so với nếu chỉ dựa vào khả năng tri giác thuần túy. Phạm vi nhận thức tri giác – số lượng đối tượng tri giác mà con người có thể xử lý tại một thời điểm bất kỳ – chỉ có hạn. Con người có thể hình dung ra bốn hoặc năm đơn vị – ví dụ như năm cái cây. Nhưng con người không thể mường tượng ra một trăm cái cây hay một khoảng cách dài mười năm ánh sáng. Chỉ có năng lực nhận thức dựa trên các khái niệm mới có thể giúp ta xử lý kiểu tri thức như vậy.
Bài viết: Nhận-thức-luận-tâm-lý về Nghệ thuật (The Psycho-Epistemology of Art)
Tựa sách: Tuyên ngôn Lãng mạn (The Romantic Manifesto)
Khái niệm hóa là một phương pháp mở rộng ý thức của con người bằng cách quy giản số lượng đơn vị nội dung của ý thức—một phương thức có hệ thống để hợp nhất không giới hạn dữ liệu nhận thức.
Một khái niệm là một biểu tượng (một từ) thay thế cho tập hợp tri giác khổng lồ những cái cụ thể mà nó bao gồm. Để thực hiện chức năng giản lược đơn vị, biểu tượng đó phải trở nên tự động hóa trong ý thức của con người, nghĩa là, số lượng khổng lồ các tham chiếu của nó phải có sẵn ngay lập tức (một cách ẩn ngầm) trong trí óc có ý thức của con người bất cứ khi nào bản thân mình sử dụng khái niệm đó, mà không cần hình dung bằng tri giác hoặc tóm tắt trong đầu—theo cách tương tự giống như khái niệm “5” không yêu cầu con người hình dung năm cây gậy mỗi khi ta sử dụng khái niệm đó.
Ví dụ, nếu một người đã hiểu hoàn toàn khái niệm “công bằng”, thì anh ta không cần phải đọc thuộc lòng luận thuyết dài dòng về ý nghĩa của nó trong lúc nghe dữ-liệu-bằng-chứng trong một vụ án. Chỉ cần câu “Tôi phải công bằng” là đã tự động bao hàm ý nghĩa đó trong trí óc của anh ta, và khiến cho anh ta tự do dùng sự chú ý có ý thức để nắm bắt dữ-liệu-bằng-chứng và đánh giá nó theo một tập hợp các nguyên tắc phức tạp. (Và, trong trường hợp còn nghi ngờ, thì việc nhớ lại một cách có ý thức về ý nghĩa chính xác của từ “công bằng” sẽ cung cấp cho anh ta những hướng dẫn mà anh ta cần.).
Chính nguyên tắc giới hạn nhận thức luận đòi hỏi định nghĩa của khái niệm phải dựa trên các đặc điểm cốt yếu. Khi không chắc chắn, nếu một người nhớ lại định nghĩa của khái niệm, thì (các) đặc điểm cốt yếu sẽ giúp anh ta ngay lập tức có thể hiểu ý nghĩa của khái niệm, tức là, bản chất các tham chiếu của khái niệm đó.
Bài viết: The Cognitive Role of Concepts (Vai trò nhận thức của các khái niệm)
Tựa sách: Introduction to Objectivist Epistemology (Giới thiệu về Nhận thức luận của Triết học Khách quan)
<<Trở lại danh mục thuật ngữ>>