<<Lexicon
Nguồn: https://courses.aynrand.org/lexicon/anti-conceptual-mentality/
Đặc điểm chính của tâm lý này là kiểu thụ động đặc biệt: không phải thụ động theo đúng nghĩa và không toàn diện, mà là thụ động vượt quá một giới hạn nhất định – tức là thụ động đối với quá trình hình thành khái niệm, và do đó, thụ động với các nguyên tắc cốt yếu. Tại một thời điểm phát triển nhất định, chính tâm lý quyết định rằng nó đã biết đủ và không quan tâm đến việc nhìn xa hơn. Nó chấp nhận điều gì là “đủ”? Những cái-cụ-thể sẵn có tức thì, có-thể-tri-giác trực tiếp, trong nền tảng của tâm lý đó…
Để hiểu thấu và xử lý với những cái-cụ-thể như vậy, con người cần một mức độ phát triển khái niệm nhất định, quá trình mà bộ não của một con vật không thể thực hiện được. Nhưng sau kỳ tích ban đầu của việc học nói, một đứa trẻ có thể giả mạo quá trình này, bằng cách ghi nhớ và bắt chước. Tâm lý phản-khái-niệm dừng lại ở cấp độ phát triển này – ở các cấp độ trừu tượng hóa đầu tiên, vốn xác định dữ liệu tri giác mà chủ yếu bao gồm các đối tượng vật lý – và tâm lý này cũng không chọn thực hiện bước đi mang-tính-ý-chí trọn vẹn, quan trọng, tiếp theo: các cấp độ cao hơn của quá trình trừu tượng hóa từ những trừu-tượng (abstraction from abstractions), mà không thể học được bằng cách bắt chước. (Xem trong cuốn Introduction to Objectivist Epistemology của tôi)…
Tâm lý phản-khái-niệm coi hầu hết mọi thứ là những điều căn bản không thể quy giản được nữa và cho chúng là “điều hiển nhiên”. Nó xử lý các khái niệm như thể chúng là các đối tượng tri giác (được ghi nhớ); nó xử lý những trừu-tượng như thể chúng là những cái-cụ-thể thuộc về tri giác1. Với một tâm lý như vậy, tất cả mọi thứ đều có sẵn: dòng thời gian, bốn mùa, thiết chế hôn nhân, thời tiết, sinh sản, lũ lụt, hỏa hoạn, động đất, cuộc cách mạng, cuốn sách, đều là những hiện tượng của cùng một cấp. Tâm lý này không chỉ đơn thuần không phân biệt được giữa hiện-thực-tự-nhiên và do-con-người-tạo (the metaphysical and the man-made2), mà nó còn bất thông tri.
Bài viết: The Missing Link (Mắt xích bị khuyết)
Tựa sách: Philosophy: Who Needs It (Triết học: Người cần đến nó)
[Kiểu tâm lý này] đã học được cách nói, nhưng chưa bao giờ nắm bắt được quá trình hình thành khái niệm. Đối với người như vậy, các khái niệm chỉ đơn thuần là một loại tín hiệu mã hóa nào đó mà người khác sử dụng vì một lý do không thể giải thích được, các tín hiệu không có mối liên quan gì với thực tại hoặc với bản thân người này. Anh ta coi các khái niệm như là đối tượng tri giác, và ý nghĩa của chúng thay đổi theo bất kỳ sự thay đổi nào của hoàn cảnh. Bất cứ thứ gì anh ta học được hay tình cờ giữ lại đều được coi là đã luôn ở sẵn trong tâm trí mình, như thể chúng là một sản phẩm của nhận thức trực tiếp, mà không nhớ gì về cách bản thân anh ta có được nó – như một kho lưu trữ ngẫu nhiên các dữ liệu vốn chưa qua xử lý và phó mặc may rủi… Anh ta không tìm kiếm tri thức – anh ta “phơi bày bản thân” cho “trải nghiệm”, thực tế thì hy vọng rằng nó sẽ nhét được điều gì đó vào tâm trí mình; nếu không có gì xảy ra, thì anh ta cảm thấy – với nỗi oán giận ngạo mạn về đạo đức –rằng bản thân không thể làm gì được trước tình huống đó. Hành động thuộc về trí tuệ, tức nỗ lực trí óc – bất kỳ kiểu xử lý, xác định, tổ chức, tích hợp, đánh giá phê bình hay kiểm soát nào về nội dung tinh thần của bản thân – là một địa hạt xa lạ.
Bài viết: The Age of Envy (Thời đại đố kỵ)
Tựa sách: Return of the Primitive: The Anti-Industrial Revolution (Trở lại thòi kỳ nguyên thủy: chống lại cách mạng công nghiệp)
Tâm lý này không phải là sản phẩm của sự ngu dốt (cũng không phải do thiếu trí thông minh): nó là do tự tạo ra, tức là tự kiềm hãm. Trong bộ não của một người phản-khái-niệm, quá trình tích hợp phần lớn được thay thế bằng một quá trình liên kết. Thứ mà tiềm thức của người đó lưu trữ và tự động hóa không phải là những ý tưởng, mà là một sự tích lũy bừa bãi những cái-cụ-thể tạp nham, sự kiện ngẫu nhiên và cảm xúc không xác định, đã chất đống trong các thư mục lưu trữ hồ sơ tinh thần không gắn nhãn. Điều này sẽ hiệu quả đến một thời điểm nhất định – tức là, chừng nào một người như vậy giao thiệp với những người có các thư mục được nhồi nhét tương tự, và do đó chưa từng cần phải tìm kiếm trong toàn bộ hệ thống lưu trữ. Trong những giới hạn như vậy, người này có thể năng động và sẵn sàng làm việc chăm chỉ…
Một người với tâm lý như vậy có thể đề cao một số nguyên tắc trừu tượng hóa3 hoặc tuyên xưng những điều xác tín về trí tuệ (mà không nhớ mình đã vớ được chúng ở đâu hay bằng cách nào). Nhưng nếu ai hỏi rằng anh ta có ý gì khi tuyên xưng một ý tưởng nào đó thì anh ta sẽ không thể trả lời. Nếu người ta hỏi lý lẽ nào khiến anh ta có những niềm tin như vậy, thì người ta sẽ phát hiện ra rằng những niềm tin đó của anh ta chỉ là một lớp màng mỏng manh, dễ tan rã, trôi nổi vô định trong hư không, giống như một vết dầu loang trong không gian trống rỗng – và người ta sẽ bị sốc bởi số lượng câu hỏi mà anh ta chưa từng có ý định thắc mắc.
Bài viết: The Age of Envy (Thời đại đố kỵ)
Tựa sách: Return of the Primitive: The Anti-Industrial Revolution (Trở lại thòi kỳ nguyên thủy: chống lại cách mạng công nghiệp)
Anh ta dường như có thể hiểu được một cuộc thảo luận hoặc một cuộc tranh luận có-lý-trí, thậm chí đôi khi còn hiểu được ở cấp độ lý thuyết, khái niệm hóa. Anh ta có thể tham gia một cuộc nghiên cứu quan trọng về vấn đề này, sau đó dường như tán thành hoặc không tán thành. Nhưng lần sau khi gặp lại, anh ta đã quên hết những kết luận mình đã đưa ra, như thể cuộc thảo luận đó chưa từng xảy ra mặc dù anh ta nhớ về nó: anh ta nhớ sự kiện, tức là, một cuộc thảo luận đó, chứ không nhớ nội dung về mặt trí tuệ.
Buộc tội anh ta đạo đức giả hoặc dối trá đều không đúng trọng tâm (mặc dù cả hai điều này phần nào có liên quan). Vấn đề của anh ta còn tồi tệ hơn vậy nữa: anh ta chân thành, anh ta có ý như vậy trong và vì khoảnh khắc đó. Nhưng điều đó đã kết thúc ngay tại khoảnh khắc ấy. Không gì diễn ra trong tâm trí anh ta đối với ý niệm mà bản thân chấp nhận hoặc bác bỏ; không quá trình xử lý, không sự hợp nhất, không vận dụng cho bản thân, không có những hành động hoặc mối quan tâm của anh ta; anh ta không thể sử dụng ý niệm đó hoặc thậm chí không thể nhớ được nó. Đối với anh ta, những ý niệm, tức là những cái-trừu-tượng4, không có thực: những cái-trừu-tượng liên quan đến quá khứ và tương lai, cũng như liên quan hiện tại; không gì hoàn toàn là có thực đối với anh ta ngoại trừ cái khoảnh khắc hiện tại kia. Trong tâm trí của anh ta, những khái niệm trở thành đối tượng tri giác — những đối tượng tri giác xuất hiện khi con người phát ra âm thanh; và những đối tượng tri giác biến mất khi các kích thích giác quan kết thúc. Khi anh ta sử dụng từ ngữ, các hoạt động trí óc của anh ta giống hoạt động của một con vẹt hơn là con người. Theo nghĩa chính xác của từ ngữ, anh ta chưa học nói.
Nhưng có một điều bất biến trong tâm trí liên tục thay đổi của anh ta. Tiềm thức là một cơ chế tích hợp; khi tiềm thức bị bỏ mặc mà không có sự kiểm soát có ý thức, nó sẽ tự tích hợp — và giống như máy xay trộn tự động, tiềm thức của anh ta nén chặt mớ hỗn độn rác rưởi trong đó thành một cảm xúc đơn lẻ cốt yếu: sợ hãi.
Bài viết: The Comprachicos (Những kẻ Comprachicos)
Tựa sách: Return of the Primitive: The Anti-Industrial Revolution (Trở lại thòi kỳ nguyên thủy: chống lại cách mạng công nghiệp)
Chính những nguyên tắc cơ bản của triết học (đặc biệt là đạo đức học) là thứ mà một người phản-khái-niệm sợ hãi hơn tất cả. Để thấu hiểu và áp dụng chúng đòi hỏi một chuỗi khái niệm dài, mà bản thân người này đã làm cho tâm trí mình không thể nắm giữ được gì, ngoài những mắt xích thô sơ, đầu tiên. Nếu những niềm tin mà anh ta tuyên xưng – tức là các quy tắc và khẩu hiệu trong nhóm của anh ta – bị thách thức, anh ta cảm thấy ý thức của mình đang tan thành sương khói. Do đó, anh ta sợ người-ngoài. Từ “người-ngoài”, đối với anh ta, có nghĩa là toàn bộ thế giới rộng lớn bên ngoài ranh giới làng mạc, thị trấn hay băng đảng của bản thân – thế giới của tất cả những người không sống theo “quy tắc” của anh ta. Anh ta không biết tại sao mình cảm thấy rằng người-ngoài là một mối đe dọa chết người và tại sao những người-ngoài ấy lại khiến mình đầy ứ nỗi kinh hoàng bất lực. Mối đe dọa không liên quan đến tồn tại, mà liên quan nhận-thức-luận-tâm-lý: Để đối phó với người-ngoài, anh ta buộc phải nâng “các quy tắc” của mình lên cấp độ của những nguyên tắc trừu tượng hóa. Mà anh ta thà chết còn hơn phải cố làm vậy.
“Được bảo vệ khỏi người-ngoài” là lợi ích mà anh ta tìm kiếm khi bám vào nhóm của mình. Đổi lại, nhóm yêu cầu anh ta phải nghe theo các quy tắc trong nhóm, điều mà anh ta rất hăm hở tuân lệnh: những quy tắc đó là tấm khiên bảo vệ anh ta – khỏi địa hạt đáng sợ của sự tư duy về mặt khái niệm ở cấp độ cao.
Bài viết: The Missing Link (Mắt xích bị khuyết)
Tựa sách: Philosophy: Who Needs It (Triết học: Người cần đến nó)
Phân biệt chủng tộc là một biểu hiện rõ ràng của tâm lý phản-khái-niệm. Tính bài ngoại cũng vậy – tức là sợ hãi hoặc căm ghét người nước ngoài (“người-ngoài”). Bất kỳ chế độ phân chia đẳng cấp nào quy định địa vị của một người (tức là ấn định anh ta vào một bộ lạc) dựa theo hoàn cảnh sinh ra, cũng là biểu hiện của tâm lý phản-khái-niệm; một chế độ phân chia đẳng cấp duy trì nhờ vào kiểu học đòi màu mè đặc biệt (tức lòng trung thành với nhóm) không chỉ trong giới quý tộc, mà có lẽ còn dữ dội hơn, trong giới bình dân hay thậm chí cả nông nô, những người thích “biết địa vị của mình” và bảo vệ nó một cách đầy ganh tị chống lại những người-ngoài thuộc tầng lớp bên trên hoặc bên dưới. Chế độ chính trị-kinh tế theo nghiệp đoàn cũng vậy. Tất cả các dạng sùng bái dòng tộc hay “đoàn kết” gia đình (gia đình ở đây bao gồm cả cô dì, chú bác, anh em họ ba đời) cũng vậy. Và tất cả các băng đảng tội phạm cũng vậy cả thôi.
Bè phái/Chủ nghĩa bộ lạc… là cái tên đúng nhất để gọi tất cả các biểu hiện theo phe phái trong tâm lý phản-khái-niệm.
Bài viết: The Missing Link (Mắt xích bị khuyết)
Tựa sách: Philosophy: Who Needs It (Triết học: Người cần đến nó)
Hãy quan sát để thấy rằng sự trỗi dậy của chủ nghĩa bộ lạc ngày nay không phải là sản phẩm của các tầng lớp thấp kém – của những người nghèo khổ, người vô dụng, người dốt nát – mà là của những trí thức, “giới tinh hoa” có học vấn đại học (là một thuật ngữ thuần túy mang tính phe phái). Hãy quan sát sự nảy nở của các bầy đàn hoặc băng nhóm kỳ quặc – hippies, yippies, beatniks, peaceniks, Women’s Libs, Gay Libs, Jesus Freaks, Earth Children5 – đó không phải là các bộ lạc, mà là các tập hợp đám người thay đổi liên tục trong việc tuyệt vọng tìm kiếm “sự bảo vệ” của bộ lạc.
Mẫu số chung của tất cả các băng nhóm như vậy là niềm tin vào vận động (biểu tình quần chúng), chứ không phải hành động – tin vào việc hô hào, chứ không phải tranh luận – tin vào việc đòi hỏi, chứ không phải đạt được – tin vào cảm giác, chứ không phải tư duy – tin vào việc phản đối kịch liệt “người-ngoài”, chứ không phải theo đuổi các giá trị – tin vào việc chỉ tập trung cho “lúc này”, “hôm nay”, mà không có “ngày mai” – tin vào việc tìm cách quay trở lại với “tự nhiên”, với “đất”, với bùn, với lao động thể chất, tức là tin vào tất cả những thứ mà một tâm trí thuộc về tri giác có thể xử lý. Bạn sẽ không thấy những người ủng hộ lý trí và khoa học đổ ra đường, với niềm tin rằng việc sử dụng thân thể để ngăn chặn giao thông sẽ giải quyết được mọi vấn đề.
Bài viết: The Missing Link (Mắt xích bị khuyết)
Tựa sách: Philosophy: Who Needs It (Triết học: Người cần đến nó)
<<Trở lại danh mục thuật ngữ>>
- Xem thêm Abstraction (process of) VÀ Abstractions and Concretes ↩︎
- Xem thêm Metaphysical vs. Man-Made ↩︎
- Nguyên tắc khái niệm hóa mang tính khái quát hóa cao ↩︎
- Cái trừu tượng tức là những cái được hình thành bằng cách khái niệm hóa ↩︎
- Các trào lưu xã hội ở Mỹ trong thập niên 1960 nhiều biến động. ↩︎