Style (Phong cách)

<<Lexicon

Nguồn: https://courses.aynrand.org/lexicon/style/


“Phong cách” là một phương thức thể hiện cụ thể, riêng biệt hay đặc trưng.

Bài viết: Nghệ thuật và Cảm-thức-sống (Art and Sense of Life)
Tựa sách:
Tuyên ngôn Lãng mạn (The Romantic Manifesto)


Hai yếu tố riêng biệt, nhưng tương quan với nhau trong một tác phẩm nghệ thuật, là phương thức quan trọng để phóng chiếu cảm-thức-sống: chủ thể phong cáchđiều mà một người nghệ sĩ chọn để thể hiện và cách anh ta thể hiện nó.

Chủ thể của một tác phẩm nghệ thuật thể hiện quan điểm về sự tồn tại của con người, còn phong cách thể hiện quan điểm về ý thức của con người. Chủ thể cho thấy yếu tố siêu hình học của người nghệ sĩ, phong cách cho thấy nhận-thức-luận-tâm-lý của anh ta.

Chủ đề [ý tưởng chủ đạo] của một tác phẩm nghệ thuật là mối liên kết thống nhất chủ thể và phong cách của tác phẩm. “Phong cách” là một phương thức thể hiện cụ thể, riêng biệt hay đặc trưng. Phong cách của một người nghệ sĩ là sản phẩm từ nhận-thức-luận-tâm-lý của chính bản thân người nghệ sĩ — và hàm ý một sự phóng chiếu quan điểm của bản thân về ý thức con người, về tính hiệu quả hoặc sự bất lực, về phương thức và mức độ hoạt động đúng đắn của sự phóng chiếu đó.

Chủ yếu (dù không phải duy nhất), một người bình thường có trạng thái tinh thần tập trung hoàn toàn sẽ tạo nên và hưởng ứng một phong cách bao gồm sự rõ ràng rực rỡ và độ chính xác khắt khe — một phong cách phóng chiếu ra những đường nét sắc sảo, thanh khiết, có chủ đích, một sự gắn kết không khoan nhượng với nhận thức toàn diện và căn tính rõ ràng — một mức độ nhận thức phù hợp với vũ trụ nơi A là A, nơi vạn vật đều rõ ràng với ý thức của con người và đòi hỏi sự hoạt động liên tục của ý thức.

Một người bị lay động bởi làn suơng mờ của những cảm xúc và thường mất tập trung sẽ tạo nên và hưởng ứng một phong cách mờ ảo, u ám “huyền bí”, trong đó các đường nét hòa tan và các thực thể chảy vào nhau, trong đó những từ ngữ không có ý nghĩa gì và không biểu thị gì, trong đó những màu sắc trôi nổi mà không có vật thể và những vật thể trôi nổi không trọng lượng — một mức độ nhận thức phù hợp với vũ trụ nơi người ta có thể chọn A là bất kỳ thứ gì không-phải-A, trong đó không gì có thể được biết chắc chắn và hầu như chẳng có gì đòi hỏi ý thức của con người.

Phong cách là yếu tố phức tạp nhất của nghệ thuật, biểu lộ nhiều nhất và thường là rối rắm nhất về mặt tâm lý. Những xung đột nội tâm khủng khiếp mà người nghệ sĩ phải chịu đựng, chẳng kém gì (hay có lẽ là còn hơn) những người khác, được phóng đại trong tác phẩm của họ. Một ví dụ: Salvador Dali là người có phong cách phóng chiếu ra nhận-thức-luận-tâm-lý lý trí một cách rõ ràng, minh bạch; trong khi hầu hết (dù không phải tất cả) các chủ thể của ông phóng chiếu một siêu hình học xấu xa, phi lý và kinh tởm. Có thể thấy một sự mâu thuẫn tương tự, nhưng ít gây khó chịu hơn, trong các bức tranh của Vermeer, người kết hợp phong cách rõ ràng, sáng láng, với siêu hình học ảm đạm của Chủ nghĩa Tự nhiên. Ở đối cực kia của dải biến thiên về phong cách, hãy quan sát việc che mờ có chủ ý và làm biến dạng hình ảnh trực quan của trường phái được gọi là “họa sĩ”, từ Rembrandt trở về sau – đến cuộc nổi loạn chống lại ý thức, thể hiện bằng một hiện tượng như Chủ nghĩa Lập thể, thứ chủ nghĩa có đặc trưng là tìm cách làm tan rã ý thức của con người bằng việc vẽ các vật thể mà con người không thể hiểu nổi (từ vài góc nhìn cùng một lúc).

Phong cách của một nhà văn có thể thể hiện sự pha trộn giữa lý trí và cảm xúc nồng nhiệt (Victor Hugo), sự hỗn loạn của những khái niệm trừu tượng trôi nổi, của những cảm xúc bị cắt lìa khỏi thực tại (Thomas Wolfe), sự khô khan, trần trụi, chi-tiết-cụ-thể, giọng điệu thẳng thừng nhuốm màu hài hước của một phóng viên khôn khéo (Sinclair Lewis), sự kiểm soát ngôn từ chặt chẽ, sắc sảo, sáng sủa, nhưng tiết chế của một người quen kiềm nén (John O’Hara), sự chính xác nông cạn và rườm rà một cách thận trọng của kẻ phi đạo đức (Flaubert), hay sự giả tạo, kiểu cách của một kẻ sống thứ sinh (một vài người đương đại không đáng nhắc đến).

Phong cách truyền đạt cái có thể được gọi là “cảm-thức-sống thuộc về nhận-thức-luận-tâm-lý”, tức là một sự thể hiện mức độ hoạt động tinh thần mà người nghệ sĩ cảm thấy thoải mái nhất. Đây là lý do tại sao phong cách cực kỳ quan trọng trong nghệ thuật — với cả người nghệ sĩ lẫn người thưởng thức – cũng là lý do vì sao ý nghĩa của phong cách được trải nghiệm như một vấn đề mang tính cá nhân sâu sắc. Đối với người nghệ sĩ, đó là một sự biểu đạt, đối với người thưởng thức, đó là một sự chuẩn nhận, về ý thức của chính bản thân mỗi người — có nghĩa là: về tính hiệu quả của chính mình — tức là: sự tự tôn của bản thân (hoặc sự tự-tôn-giả-tạo).

Bài viết: Nghệ thuật và Cảm-thức-sống (Art and Sense of Life)
Tựa sách:
Tuyên ngôn Lãng mạn (The Romantic Manifesto)


Phong cách không phải là một mục đích tự thân, nó chỉ là phương tiện để đi đến mục đích — phương tiện kể chuyện. Nhà văn xây dựng một phong cách hoa mỹ, nhưng không nói lên được điều gì cả, thì đại diện cho một kiểu khuếch trương thẩm mỹ chết cứng; anh ta giống như một nghệ sĩ dương cầm có được kỹ thuật điêu luyện nhờ thường xuyên tập các bài luyện ngón, nhưng không bao giờ biểu diễn được trong một buổi hòa nhạc.

Sản phẩm văn học điển hình của những nhà văn như vậy — và những kẻ bắt chước họ, những người không có phong cách — được gọi là “những-nghiên-cứu-tâm-trạng”, phổ biến trong giới văn học ngày nay. Đó là những tác phẩm nhỏ không truyền tải được gì ngoài một tâm trạng nào đó. Những tác phẩm như vậy không phải là một dạng thức nghệ thuật, chúng chỉ là những bài luyện ngón không bao giờ phát triển thành nghệ thuật được.

Bài viết: Những nguyên tắc văn học cơ bản (Basic Principles of Literature)
Tựa sách:
Tuyên ngôn Lãng mạn (The Romantic Manifesto)


<<Trở lại danh mục thuật ngữ>>

Bình luận về bài viết này